Anh Ngô Tiến Hoàng

Người dùng

Vụ án Bệnh viện Bạch Mai – Việt Đức cơ sở 2: Mức án 6 năm tù với cựu Bộ trưởng Y tế liệu đã tương xứng?

Chiều 27/5, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên án sơ thẩm đối với cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cùng 9 bị cáo trong vụ án sai phạm tại Dự án cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức – hai công trình y tế trọng điểm từng được kỳ vọng giảm tải cho hệ thống bệnh viện tuyến trung ương.

Các bị cáo tại phiên tòa. ngày 27/5/2026( ảnh Báo Nhân Dân)

Theo phán quyết của Hội đồng xét xử, bị cáo Nguyễn Thị Kim Tiến bị tuyên phạt 6 năm tù về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí”, đồng thời buộc nộp 108 tỷ đồng để khắc phục hậu quả vụ án. Trong khi đó, nhiều bị cáo khác nhận mức án rất nặng do liên quan hành vi nhận hối lộ, lừa đảo và sai phạm trong quản lý dự án.

Bị cáo Nguyễn Chiến Thắng, cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm, bị tuyên 13 năm tù về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” và 30 năm tù về tội “Nhận hối lộ”, tổng hợp hình phạt là 30 năm tù. Bị cáo Nguyễn Hữu Tuấn, cựu Giám đốc Ban Quản lý dự án y tế trọng điểm, bị tuyên 10 năm tù về tội danh liên quan thất thoát tài sản Nhà nước và 15 năm tù về tội “Nhận hối lộ”, tổng hợp hình phạt là 25 năm tù. Các bị cáo còn lại nhận mức án từ 3 đến 7 năm tù; riêng bị cáo Lê Thanh Thiệm, Giám đốc Công ty TNHH Sao Nam Sông Hồng, bị tuyên 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Hội đồng xét xử đồng thời buộc các bị cáo liên đới bồi thường hơn 803 tỷ đồng thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà nước theo phân chia trách nhiệm.

Ngay sau khi bản án được công bố, dư luận tiếp tục xuất hiện nhiều luồng ý kiến trái chiều. Có người cho rằng mức án dành cho cựu Bộ trưởng là phù hợp với quy định pháp luật vì chưa xác định bị cáo trực tiếp nhận hối lộ như các trường hợp khác. Tuy nhiên, cũng không ít ý kiến băn khoăn liệu mức án 6 năm tù đối với người từng đứng đầu ngành y tế có quá nhẹ so với hậu quả mà vụ án gây ra.

Điều khiến xã hội day dứt không chỉ nằm ở con số hơn 803 tỷ đồng thất thoát, lãng phí ngân sách Nhà nước, mà còn ở sự đình trệ kéo dài của hai bệnh viện lớn được đầu tư bằng tiền thuế của dân. Trong nhiều năm, hệ thống y tế tuyến cuối vẫn quá tải, bệnh nhân nằm ghép giường, chuyển tuyến khó khăn, trong khi những công trình từng được kỳ vọng mang tầm quốc tế lại dang dở, xuống cấp và chưa thể phát huy đầy đủ hiệu quả.

Đáng chú ý, trong phần tự bào chữa và lời nói sau cùng tại phiên tòa, cựu Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến nhiều lần bày tỏ sự ăn năn, gửi lời xin lỗi Đảng, Nhà nước và Nhân dân vì những sai phạm trong công tác quản lý. Bị cáo cho rằng đây là bài học đau xót trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng và mong được xem xét khoan hồng do tuổi cao, sức khỏe giảm sút cùng nhiều đóng góp cho ngành y tế.

Theo nhận định của cơ quan tố tụng, sai phạm của bà Tiến chủ yếu xuất phát từ trách nhiệm quản lý, phê duyệt và thiếu kiểm tra giám sát đối với Ban Quản lý dự án cùng các đơn vị tham mưu. Viện Kiểm sát cho rằng bị cáo đã ký các quyết định phê duyệt khi “không kiểm tra tính đúng đắn, đầy đủ và tính hợp pháp” của hồ sơ, dẫn đến quá trình triển khai phát sinh sai phạm nghiêm trọng.

Tuy nhiên, chính cụm từ “tin tưởng cấp dưới” lại trở thành điểm khiến dư luận tranh luận nhiều nhất. Trong quản lý Nhà nước, đặc biệt đối với các dự án đầu tư công hàng nghìn tỷ đồng, trách nhiệm của người đứng đầu không thể chỉ dừng ở việc ký văn bản theo tham mưu mà thiếu cơ chế phản biện, kiểm tra độc lập và giám sát chặt chẽ. Nếu mọi sai phạm lớn đều có thể lý giải bằng việc “tin tưởng cấp dưới”, thì ranh giới trách nhiệm của lãnh đạo cấp cao sẽ trở nên rất mong manh.

Một điểm đáng chú ý khác là Hội đồng xét xử đã xem xét nhiều tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Thị Kim Tiến như thành khẩn khai báo, có nhiều đóng góp cho ngành y tế, nhân thân tốt, tuổi cao, sức khỏe giảm sút và đặc biệt là việc tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả. Theo hồ sơ vụ án, bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền hưởng lợi và tiếp tục nộp thêm nhiều tỷ đồng để khắc phục thiệt hại.

Từ đây, dư luận lại đặt ra một câu hỏi khác về cảm nhận công bằng trong pháp luật: liệu khả năng khắc phục hậu quả bằng tiền có đang trở thành yếu tố giúp giảm đáng kể trách nhiệm hình sự trong các đại án kinh tế? Và liệu điều này có tạo nên khoảng cách trong nhận thức xã hội giữa cán bộ cấp cao với người dân bình thường trước pháp luật?

Ở chiều ngược lại, cũng cần nhìn nhận rằng pháp luật không thể xét xử theo cảm xúc hay áp lực dư luận. Tòa án phải căn cứ vào hành vi cụ thể, vai trò cá nhân, mức độ hưởng lợi, hậu quả gây ra cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định pháp luật. Nếu không chứng minh được hành vi nhận hối lộ hoặc tư lợi cá nhân tương xứng với hậu quả vụ án, thì việc áp dụng hình phạt cũng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật hiện hành.

Dẫu vậy, sau tất cả, điều người dân mong muốn có lẽ không chỉ là một bản án nặng hay nhẹ đối với một cá nhân. Điều xã hội kỳ vọng hơn là sau vụ án này, cơ chế quản lý đầu tư công trong ngành y tế sẽ được siết chặt hơn; trách nhiệm người đứng đầu sẽ được xác định rõ ràng hơn; và những dự án liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng nhân dân sẽ không còn bị kéo dài, lãng phí qua nhiều năm như đã từng xảy ra với hai bệnh viện lớn của quốc gia.

Tô Lê

 

Loading...
Xem thêm bài viết