Phạm Thu Huyền

Người dùng

TỪ 01/01/2027: THƯƠNG BINH NÀO KHI QUA ĐỜI ĐƯỢC XEM XÉT CÔNG NHẬN LIỆT SĨ?

TƯ VẤN PHÁP LUẬT – THỜI NÉT SỐ
Thời gian gần đây, một số ý kiến cho rằng theo Pháp lệnh mới, cứ thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên khi qua đời sẽ được công nhận là liệt sĩ.
Cách hiểu này chưa thật sự chính xác.

Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16, sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, đã có quy định mới rất đáng chú ý về điều kiện xem xét công nhận liệt sĩ. Đặc biệt, pháp luật phân biệt rõ thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 80% và thương binh có tỷ lệ từ 81% trở lên.

Pháp lệnh được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 08/7/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.

CĂN CỨ PHÁP LÝ NẰM Ở ĐÂU?

Căn cứ khoản 8 Điều 1 Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16, khoản 1 Điều 14 của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi.

Theo điểm i khoản 1 Điều 14, trường hợp thương binh được xem xét công nhận liệt sĩ được xác định như sau:

“Thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh… có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 80% chết do vết thương tái phát hoặc có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên chết”.

 

Như vậy, cần hiểu thành hai trường hợp hoàn toàn khác nhau.

1. Thương binh từ 61% đến 80%

Không phải cứ qua đời là được xem xét công nhận liệt sĩ.

Pháp lệnh đặt ra điều kiện:

Có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 80% và chết do vết thương tái phát.

Yếu tố “chết do vết thương tái phát” là điều kiện quan trọng đối với nhóm này.

Do đó, nếu một thương binh tỷ lệ 61%, 65%, 70% hay 80% qua đời vì nguyên nhân khác, thì không thể chỉ căn cứ vào tỷ lệ thương tật để kết luận đương nhiên thuộc trường hợp công nhận liệt sĩ.

2. Thương binh từ 81% trở lên

Đây chính là điểm mới đặc biệt đáng chú ý.

Điểm i khoản 1 Điều 14 mới chỉ quy định:

“…hoặc có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên chết”.

Có nghĩa là đối với thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh thuộc khoản 1, khoản 2 Điều 23 có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên, quy định mới không còn đặt thêm điều kiện trong chính điểm i rằng phải “chết do vết thương tái phát” như đối với nhóm từ 61% đến 80%.

Đây cũng là nội dung được các cơ quan thông tin chính thống khi giới thiệu Pháp lệnh mới nhấn mạnh: từ 01/01/2027, quy định được sửa theo hướng không đặt điều kiện chết do vết thương tái phát đối với thương binh từ 81% trở lên; điều kiện chết do vết thương tái phát được giữ đối với nhóm từ 61% đến 80%.

VẬY CÓ PHẢI “CỨ THƯƠNG BINH 81% TRỞ LÊN CHẾT LÀ ĐƯƠNG NHIÊN THÀNH LIỆT SĨ”?

Cần rất thận trọng với cách diễn đạt này.

Pháp lệnh sử dụng cụm từ “được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận là liệt sĩ”, chứ không nên diễn giải thành việc gia đình tự động có danh hiệu liệt sĩ ngay sau khi người thương binh qua đời.

Điều 14 xác định người thuộc một trong các trường hợp luật định thì được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận.

Vì vậy, cách nói chuẩn xác hơn là:

Từ ngày 01/01/2027, thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh thuộc đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 23, có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên khi chết thuộc trường hợp được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận là liệt sĩ; Pháp lệnh mới không đặt điều kiện phải chết do vết thương tái phát đối với nhóm này.

NHỮNG TRƯỜNG HỢP NÀO ĐƯỢC XEM XÉT CÔNG NHẬN LIỆT SĨ THEO PHÁP LỆNH MỚI?

Không chỉ có trường hợp thương binh. Khoản 1 Điều 14 mới quy định người hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của Nhân dân được xem xét công nhận liệt sĩ khi thuộc một trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia.

Thứ hai, làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh tại địa bàn địch chiếm đóng, địa bàn có chiến sự hoặc địa bàn tiếp giáp vùng địch chiếm đóng.

Thứ ba, trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch.

Thứ tư, hoạt động hoặc tham gia hoạt động cách mạng, kháng chiến, bị địch bắt, tra tấn nhưng không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh.

Thứ năm, hy sinh khi làm nghĩa vụ quốc tế.

Thứ sáu, thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện đặc thù, khó khăn, nguy hiểm hoặc tại địa bàn biên giới, trên biển, hải đảo theo danh mục do Chính phủ quy định.

Thứ bảy, trực tiếp làm nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Thứ tám, dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân hoặc dũng cảm ngăn chặn, bắt giữ người có hành vi phạm tội.

Thứ chín, thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 23:

  • tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 80% và chết do vết thương tái phát; hoặc
  • tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên chết.

Thứ mười, mất tích trong các trường hợp được Điều 14 quy định và được cơ quan có thẩm quyền kết luận không phản bội, đầu hàng, chiêu hồi hoặc đào ngũ.

Đây là các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 14 sau khi được sửa đổi bởi khoản 8 Điều 1 Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16.

ĐIỂM MỚI CẦN ĐẶC BIỆT GHI NHỚ

Có thể tóm tắt quy định đối với thương binh bằng một công thức dễ nhớ:

Thương binh 61%–80%:
Chết + do vết thương tái phát → thuộc trường hợp xem xét công nhận liệt sĩ.

Thương binh từ 81% trở lên:
Chết → thuộc trường hợp xem xét công nhận liệt sĩ; điểm i khoản 1 Điều 14 mới không yêu cầu phải chứng minh chết do vết thương tái phát.

Đây chính là sự thay đổi quan trọng của Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16. Các thông tin giới thiệu chính sách mới cũng xác định việc sửa đổi nhằm tháo gỡ bất cập thực tế đối với thương binh nặng, đặc biệt những trường hợp khi sức khỏe nguy kịch được gia đình đưa về chăm sóc và qua đời tại nhà.

KHÔNG NÊN DÙNG CỤM TỪ “PHONG LIỆT SĨ”

Trong phổ biến pháp luật, cần sử dụng đúng thuật ngữ.

Không nên viết:

“Thương binh 81% khi chết được phong liệt sĩ.”

Nên viết:

“Thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên khi chết thuộc trường hợp được cơ quan có thẩm quyền xem xét công nhận là liệt sĩ theo quy định có hiệu lực từ ngày 01/01/2027.”

Hai chữ “xem xét”“công nhận” rất quan trọng, bởi việc xác lập chế độ còn phải được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền theo trình tự, hồ sơ và thủ tục pháp luật quy định.

THỜI NÉT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Đối với gia đình có thương binh nặng từ 61% trở lên, đặc biệt là thương binh từ 81% trở lên, nên lưu giữ đầy đủ Giấy chứng nhận thương binh, quyết định hưởng chế độ, hồ sơ giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể, hồ sơ thương tật và các giấy tờ liên quan.

Riêng đối với thương binh từ 61% đến 80%, vấn đề xác định chết do vết thương tái phát có ý nghĩa pháp lý đặc biệt quan trọng.

Pháp lệnh số 05/2026/UBTVQH16 có hiệu lực từ 01/01/2027. Vì vậy, khi giải quyết từng trường hợp cụ thể cần tiếp tục đối chiếu các quy định của Chính phủ về thẩm quyền, hồ sơ và thủ tục công nhận, không nên chỉ dựa vào thông tin truyền miệng để kết luận một người đã đương nhiên được công nhận là liệt sĩ.

BT: HÀ LÊ

Ban Tư vấn pháp luật – THỜI NÉT SỐ

Bài viết phổ biến quy định pháp luật; đối với từng trường hợp cụ thể cần căn cứ hồ sơ người có công và quy định hướng dẫn thực hiện tại thời điểm giải quyết.

 

Loading...
Xem thêm bài viết