Lê Khánh Ngân

Người dùng

QUY HOẠCH TP.HCM TẦM NHÌN 100 NĂM: KHÁT VỌNG SIÊU ĐÔ THỊ HAY BÀI TOÁN PHÁT TRIỂN CẦN LỜI GIẢI TỪ HÔM NAY?

Phân tích từ góc độ kinh tế, quản lý đô thị, giao thông, môi trường, nguồn lực đầu tư và quyền lợi lâu dài của người dân.
Ngày 30/10/2026, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thông qua Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025–2050, tầm nhìn 100 năm. Đây là sự kiện quan trọng, đánh dấu bước chuyển trong tư duy tổ chức không gian phát triển của đô thị lớn nhất cả nước về quy mô kinh tế.

Sau khi hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.HCM có diện tích khoảng 6.772,59 km², gồm 168 đơn vị hành chính cấp xã, với không gian phát triển trải rộng từ trung tâm tài chính, công nghiệp, công nghệ cao đến cảng biển và kinh tế đại dương.

Theo phương án được thông qua, thành phố phát triển theo mô hình 5 cực động lực, 5 trung tâm vệ tinh, 5 hệ liên kết chiến lược và 10 vùng quản trị phát triển. Trước đó, phương án 3 cực động lực từng được đề xuất trong quá trình góp ý quy hoạch. Cần phân biệt rõ đề xuất này với phương án 5 cực được thông qua.

Một bản quy hoạch có tầm nhìn 100 năm thể hiện khát vọng lớn. Nhưng dưới góc độ kinh tế và quản trị đô thị, vấn đề không chỉ nằm ở tầm nhìn dài bao nhiêu năm mà còn ở khả năng biến những định hướng ấy thành hiện thực. Bởi xây dựng một thành phố lớn đã khó, xây dựng một thành phố mà hàng chục triệu người có thể sinh sống thuận tiện, an toàn, có việc làm và được hưởng thành quả phát triển còn khó hơn nhiều.

I. NĂM CỰC PHÁT TRIỂN: BƯỚC CHUYỂN TỪ ĐÔ THỊ TẬP TRUNG SANG SIÊU ĐÔ THỊ ĐA TRUNG TÂM

Điểm đáng chú ý của quy hoạch lần này là thay đổi cách tổ chức không gian kinh tế. Trước đây, TP.HCM chủ yếu phát triển theo mô hình một trung tâm lớn, với các hoạt động tài chính, thương mại, dịch vụ và việc làm chất lượng cao tập trung nhiều tại khu vực nội đô; các khu công nghiệp, cảng biển và khu dân cư mở rộng ra các địa phương xung quanh.

Mô hình này tạo ra sức tăng trưởng mạnh mẽ nhưng cũng làm phát sinh áp lực lớn đối với hạ tầng. Việc hình thành 5 cực động lực được kỳ vọng khắc phục tình trạng tập trung quá mức ấy.

Cực thứ nhất là trung tâm tài chính quốc tế Sài Gòn – Chợ Lớn – Thủ Thiêm, giữ vai trò phát triển tài chính, thương mại và dịch vụ quốc tế. Cực thứ hai là khu vực đổi mới sáng tạo phía Đông, tập trung vào khoa học, công nghệ, kinh tế tri thức và các ngành có giá trị gia tăng cao. Cực thứ ba là công nghiệp, công nghệ cao và logistics phía Bắc, phát huy thế mạnh sản xuất công nghiệp và chuỗi cung ứng. Cực thứ tư là cảng biển, thương mại tự do, logistics quốc tế và năng lượng phía Nam. Cực thứ năm là đô thị, giáo dục và y tế phía Tây.

Bên cạnh đó, 5 trung tâm vệ tinh gồm Côn Đảo, Long Hải – Hồ Tràm, Hóc Môn – Củ Chi, Bàu Bàng và Tân Uyên – Bắc Tân Uyên được định hướng hỗ trợ phân bổ dân cư, việc làm và các dịch vụ đô thị.

Về lý thuyết, khi các trung tâm việc làm, giáo dục, y tế và thương mại được phân bố hợp lý, người dân không nhất thiết phải di chuyển vào trung tâm cũ mỗi ngày. Doanh nghiệp có thể lựa chọn vị trí đầu tư phù hợp, giảm chi phí logistics và tiếp cận nguồn lao động thuận lợi hơn.

Tuy nhiên, đa cực không đồng nghĩa với tự động giảm ùn tắc hay nâng cao chất lượng sống. Nếu mỗi cực trở thành khu đô thị lớn nhưng thiếu vận tải công cộng, nhà ở phù hợp và kết nối giữa nơi ở với nơi làm việc, thành phố có nguy cơ hình thành nhiều điểm ùn tắc mới thay vì giải quyết vấn đề cũ.

II. BÀI TOÁN GIAO THÔNG: KHÔNG THỂ CÓ SIÊU ĐÔ THỊ HIỆN ĐẠI NẾU NGƯỜI DÂN VẪN MẤT HÀNG GIỜ TRÊN ĐƯỜNG

Một trong những vấn đề kéo dài nhiều năm tại TP.HCM là ùn tắc giao thông. Khi đô thị phát triển nhanh hơn năng lực đáp ứng của đường sá và phương tiện công cộng, hậu quả không chỉ là mất thời gian mà còn là tổn thất kinh tế.

Hãy xét một phép tính giả định. Nếu mỗi ngày có 5 triệu người tham gia giao thông và bình quân mỗi người mất thêm 30 phút vì ùn tắc, tổng thời gian bị mất sẽ là 2,5 triệu giờ mỗi ngày. Nếu tạm quy đổi giá trị kinh tế của một giờ là 40.000 đồng, giá trị thời gian bị mất có thể tương đương 100 tỷ đồng mỗi ngày. Trong 300 ngày, con số lý thuyết lên tới 30.000 tỷ đồng.

Đây không phải số liệu thống kê thiệt hại thực tế của TP.HCM, mà là phép tính minh họa. Để xác định thiệt hại chính thức còn phải phân loại thời gian lao động, thời gian cá nhân, mức độ ùn tắc và tránh tính trùng chi phí.

Thiệt hại không dừng ở đó. Ô tô chạy trên đường thông thoáng có thể tiêu thụ khoảng 6–7 lít nhiên liệu/100 km, trong khi việc dừng, chờ và tăng tốc liên tục có thể làm mức tiêu hao tăng đáng kể, tùy loại xe và điều kiện vận hành. Nhiên liệu tiêu hao thêm làm tăng chi phí vận tải; doanh nghiệp đưa một phần chi phí ấy vào giá hàng hóa và người tiêu dùng phải gánh chịu.

Một chuyến hàng từ khu công nghiệp đến cảng biển bị chậm còn có thể phát sinh chi phí nhân công, lưu kho, chậm giao hàng và giảm khả năng cạnh tranh. Vì vậy, giao thông công cộng và hạ tầng kết nối phải đi trước hoặc đồng bộ với phát triển đô thị.

Theo định hướng được công bố, đến năm 2050 thành phố đặt mục tiêu phát triển 18 tuyến đường sắt đô thị, tổng chiều dài khoảng 961 km, cùng khoảng 450 km đường sắt nhẹ hoặc tramway; tỷ lệ vận tải hành khách công cộng hướng tới 55–65%. Đây là mục tiêu lớn nhưng quan trọng hơn là khả năng thực hiện.

Một tuyến metro chỉ phát huy hiệu quả khi người dân có thể tiếp cận nhà ga thuận lợi, có xe buýt kết nối, nơi gửi xe hợp lý và giá vé phù hợp. Nếu từ nhà đến ga phải đi nhiều kilômét, chuyển tuyến bất tiện, người dân vẫn lựa chọn phương tiện cá nhân.

Cần trả lời cụ thể: Trong 5 năm đầu hoàn thành những tuyến nào? Các khu công nghiệp và cảng biển kết nối ra sao? Tỷ lệ vận tải công cộng tăng thực tế bao nhiêu? Thời gian di chuyển bình quân giảm được bao nhiêu phút? Không thể chỉ đo hiệu quả giao thông bằng số kilômét đường xây dựng; phải đo bằng thời gian và chi phí đi lại thực tế.

III. CHỐNG NGẬP VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU: BÀI TOÁN SINH TỒN CỦA ĐÔ THỊ 100 NĂM

Một thành phố có thể xây hàng loạt cao ốc hiện đại, nhưng nếu sau mưa lớn đường phố ngập sâu, giao thông tê liệt, nhà dân bị nước tràn vào thì chất lượng đô thị vẫn chưa đạt yêu cầu.

TP.HCM chịu tác động của mưa lớn, triều cường, biến đổi khí hậu và nguy cơ sụt lún tại một số địa bàn. Khi không gian đô thị mở rộng, việc san lấp ao hồ, thu hẹp kênh rạch và bê tông hóa bề mặt có thể làm suy giảm khả năng thấm, trữ và thoát nước tự nhiên.

Quy hoạch dài hạn phải tính đến kịch bản khí hậu bất lợi trong nhiều thập niên. Công trình phù hợp với điều kiện hiện nay chưa chắc đáp ứng được điều kiện sau 30 hoặc 50 năm.

Cần coi hệ thống thoát nước, hồ điều tiết, không gian xanh, hành lang sông rạch và khả năng chống chịu thiên tai là hạ tầng thiết yếu, không phải phần việc bổ sung sau khi phát triển bất động sản.

Trước hết, không được đánh đổi không gian trữ nước tự nhiên để lấy diện tích xây dựng thiếu cân nhắc. Tiếp theo, khu đô thị mới phải gắn với năng lực thoát nước của cả lưu vực, tránh khu này nâng nền đẩy nước sang khu khác. Cuối cùng, cần giám sát độc lập dự án chống ngập từ thiết kế, vốn, tiến độ đến hiệu quả vận hành.

Dự án chống ngập không thể chỉ được đánh giá bằng việc hoàn thành công trình, mà phải chứng minh số điểm ngập, thời gian ngập và thiệt hại đã giảm như thế nào. Nếu không giải quyết căn bản vấn đề nước và môi trường, thành quả kinh tế có thể bị bào mòn bởi chi phí khắc phục hậu quả.

IV. NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ: TIỀN TỪ ĐÂU VÀ AI SẼ TRẢ?

Quy hoạch siêu đô thị đòi hỏi nguồn lực rất lớn cho đường sắt đô thị, đường vành đai, cầu, cảng, thoát nước, bệnh viện, trường học, năng lượng, nhà ở và chuyển đổi số. Ngân sách nhà nước có giới hạn trong khi nhu cầu đầu tư rất lớn.

Định hướng được công bố là sử dụng vốn nhà nước làm nguồn lực dẫn dắt, kết hợp huy động vốn xã hội qua hợp tác công tư, khai thác giá trị gia tăng từ đất gắn với hạ tầng và trái phiếu đô thị. Cách tiếp cận này có cơ sở kinh tế nhưng huy động được vốn chưa đồng nghĩa với dự án hiệu quả.

Cần phân biệt vốn đầu tư ban đầu, chi phí vận hành lâu dài và nghĩa vụ tài chính cuối cùng. Một tuyến đường làm theo hình thức hợp tác công tư có thể giảm áp lực ngân sách ban đầu, nhưng nếu doanh nghiệp thu phí nhiều thập niên thì người sử dụng vẫn đóng góp chi phí. Hạ tầng đầu tư bằng nguồn thu đất có thể tạo nguồn lực nhưng cũng có nguy cơ làm tăng giá nhà. Vay vốn dài hạn phải tính lãi vay, rủi ro tỷ giá nếu có, bảo trì và khả năng trả nợ.

Mọi dự án trọng điểm cần công khai tổng mức đầu tư, nguồn vốn, thời gian hoàn vốn, chi phí vận hành, hiệu quả kinh tế – xã hội, rủi ro ngân sách và trách nhiệm cơ quan thực hiện. Phải tránh đầu tư dàn trải, khởi động quá nhiều dự án khi nguồn lực chưa bảo đảm để rồi chậm tiến độ, đội chi phí và đất đai bị bỏ hoang. Quy hoạch càng dài hạn càng phải biết lựa chọn ưu tiên.

V. QUY HOẠCH VÀ BẤT ĐỘNG SẢN: NGƯỜI DÂN ĐƯỢC HƯỞNG LỢI HAY PHẢI TRẢ GIÁ CAO HƠN?

Khi công bố các cực phát triển mới, tuyến giao thông lớn và trung tâm đô thị tương lai, giá đất tại một số khu vực có thể tăng theo kỳ vọng. Ở mặt tích cực, giá trị đất tăng phản ánh tiềm năng phát triển và có thể tạo nguồn lực đầu tư hạ tầng. Nhưng kỳ vọng bị đẩy quá mức có thể kích thích đầu cơ và làm méo mó thị trường.

Giá đất tăng trong khi thu nhập lao động không tăng tương ứng sẽ khiến khả năng tiếp cận nhà ở ngày càng khó. Hãy xét một gia đình có tổng thu nhập 25 triệu đồng/tháng. Nếu dành 30% cho nhà ở, gia đình có 7,5 triệu đồng/tháng để trả tiền thuê hoặc nghĩa vụ vay.

Nếu căn hộ giá 3 tỷ đồng, trả trước 30%, vay 2,1 tỷ đồng trong 20 năm với lãi suất giả định cố định 10%/năm, trả góp đều hằng tháng, số tiền phải trả khoảng 20,3 triệu đồng/tháng, hơn 80% thu nhập. Đây là phép tính minh họa, chưa tính các chi phí sinh hoạt khác.

Nếu quy hoạch tạo khu đô thị hiện đại nhưng người lao động không thể mua hoặc thuê nhà phù hợp thì mục tiêu phát triển bao trùm chưa đạt. Cần xác định quỹ đất nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà cho thuê dài hạn và dịch vụ công thiết yếu; hạn chế đầu cơ, bỏ hoang và chuyển đổi mục đích thiếu minh bạch.

Giá trị gia tăng của đất nhờ đầu tư công phải được phân chia hợp lý giữa Nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng, thay vì chỉ tập trung vào một số chủ thể sở hữu đất từ trước.

VI. DÂN SỐ HƠN 27 TRIỆU NGƯỜI: THÁCH THỨC KHÔNG CHỈ NẰM Ở DIỆN TÍCH ĐÔ THỊ

Theo quy hoạch, dân số TP.HCM được dự báo khoảng 18 triệu người năm 2030, 25 triệu năm 2045 và hơn 27 triệu năm 2050. Cần lưu ý phương pháp dự báo có thể tính đến các nhóm dân số ngoài thường trú, không nên đồng nhất với dân số đăng ký thường trú.

Với quy mô như vậy, vấn đề không chỉ là xây bao nhiêu căn hộ hay mở rộng bao nhiêu tuyến đường. Cần dự báo nhu cầu trường học, bệnh viện, cấp nước, xử lý nước thải, điện năng, thu gom rác và không gian sinh hoạt cộng đồng.

Dân số đông tạo khối lượng chất thải và nhu cầu tài nguyên rất lớn. Nếu xử lý rác, nước thải không đồng bộ, ô nhiễm trở thành chi phí lâu dài của xã hội. Dân số đông cũng không đồng nghĩa với nhân lực chất lượng cao.

Muốn phát triển tài chính, công nghệ và công nghiệp hiện đại, thành phố cần hệ thống đào tạo nghề, đại học, nghiên cứu khoa học và thu hút nhân tài tương xứng. Quy hoạch đặt mục tiêu phát triển giáo dục đại học quy mô lớn, nhưng phải chú trọng chất lượng đào tạo và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp. Siêu đô thị phải tạo việc làm có năng suất và thu nhập cao, không đơn thuần thu hút thêm dân cư.

VII. MÔI TRƯỜNG VÀ CHẤT LƯỢNG SỐNG: KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỔI SỨC KHỎE LẤY TĂNG TRƯỞNG

Phát triển công nghiệp, logistics, cảng biển và năng lượng tạo động lực kinh tế quan trọng nhưng cũng đặt yêu cầu cao về môi trường. Hệ thống cảng biển và vận tải hàng hóa có thể tăng mật độ xe tải và phát thải nếu tổ chức thiếu hợp lý. Khu công nghiệp gây áp lực lên nước, không khí và hệ sinh thái nếu kiểm soát không tốt. Mở rộng đô thị có thể làm giảm cây xanh, mặt nước và không gian công cộng.

Vì vậy, quy hoạch phải có giới hạn môi trường đo lường được, kiểm tra và công bố định kỳ. Không nên chỉ sử dụng các khái niệm đô thị xanh, thông minh hay bền vững trong báo cáo.

Cần trả lời: Chất lượng không khí cải thiện đến mức nào? Bao nhiêu phần trăm nước thải được xử lý đạt chuẩn? Người dân tiếp cận bao nhiêu diện tích cây xanh công cộng? Khu vực nào cần bảo vệ nghiêm ngặt?

Phải tính tác động liên vùng vì ô nhiễm không dừng ở ranh giới hành chính. Thành phố cần phối hợp thực chất với địa phương lân cận về lưu vực sông, vận tải, năng lượng và bảo vệ môi trường.

VIII. TẦM NHÌN 100 NĂM VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỪNG NHIỆM KỲ

Quy hoạch kéo dài nhiều thế hệ không thể phụ thuộc hoàn toàn vào một nhiệm kỳ quản lý. Nếu mỗi nhiệm kỳ điều chỉnh ưu tiên theo hướng khác, mục tiêu dài hạn bị phân tán nguồn lực. Nếu dự án chậm tiến độ mà trách nhiệm không rõ, thiệt hại kéo dài. Nếu điều chỉnh thiếu minh bạch theo lợi ích cục bộ, niềm tin người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng.

Cần xây dựng giám sát độc lập, công khai tiến độ và đánh giá bằng chỉ tiêu cụ thể. HĐND, cơ quan kiểm tra, kiểm toán, tổ chức xã hội, chuyên gia và người dân phải có điều kiện tham gia giám sát.

Nên xây dựng dữ liệu quy hoạch công khai để người dân tiếp cận dự án, tiến độ, vốn đầu tư và thay đổi liên quan đến nơi sinh sống. Quy hoạch phải ổn định về chiến lược nhưng có khả năng thích ứng.

Trong 100 năm, công nghệ giao thông, năng lượng, sản xuất, mô hình làm việc và khí hậu sẽ thay đổi. Không thể cố định mọi chi tiết năm 2026 đến năm 2126. Điều cần giữ là nguyên tắc bảo vệ môi trường, an toàn, kết nối hạ tầng, sử dụng đất hiệu quả và chất lượng sống; giải pháp kỹ thuật phải được cập nhật bằng bằng chứng khoa học.

IX. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ: QUY HOẠCH DÀI HẠN PHẢI ĐI CÙNG KỶ LUẬT THỰC HIỆN

Singapore chú trọng kết hợp quy hoạch đất đai, giao thông công cộng, nhà ở và hạ tầng trong điều kiện diện tích hạn chế. Tokyo phát triển mạng lưới đường sắt đô thị và đường sắt vùng rộng lớn, giúp nhiều trung tâm kinh tế cùng hoạt động trong một vùng đô thị. Seoul triển khai các chương trình cải tạo hạ tầng và không gian công cộng để nâng chất lượng môi trường đô thị.

Không thể sao chép nguyên mẫu vì mỗi nơi có lịch sử, địa hình, dân số, thể chế và năng lực tài chính khác nhau. Bài học quan trọng nhất không phải xây công trình giống nước ngoài mà là học cách quản lý phát triển: nhất quán quy hoạch, phối hợp giữa ngành, minh bạch nguồn vốn, kỷ luật thực hiện và đánh giá hiệu quả. Bản quy hoạch tốt vẫn có thể thất bại nếu tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ.

X. CẦN NHỮNG GIẢI PHÁP GÌ ĐỂ QUY HOẠCH KHÔNG CHỈ NẰM TRÊN GIẤY?

Thứ nhất, xây dựng kế hoạch thực hiện theo từng giai đoạn 5 năm, xác định rõ dự án ưu tiên, nguồn vốn, đơn vị chịu trách nhiệm, hạn hoàn thành và chỉ tiêu đánh giá.

Thứ hai, ưu tiên giải quyết các vấn đề đô thị hiện hữu. Chống ngập, ùn tắc, ô nhiễm, nhà ở và chất lượng dịch vụ công phải song hành với hình thành trung tâm mới.

Thứ ba, phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng. Khu dân cư, thương mại, trường học, bệnh viện và nơi làm việc cần bố trí hợp lý quanh các trục vận tải có năng lực lớn.

Thứ tư, xây dựng cơ chế tài chính bền vững. Huy động vốn tư nhân phải gắn với phân bổ rủi ro hợp lý, minh bạch hợp đồng và bảo vệ lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp, người dân.

Thứ năm, bảo đảm công bằng trong tiếp cận nhà ở và dịch vụ công, dành không gian cho người lao động, người thu nhập thấp, người cao tuổi và nhóm dễ bị tổn thương.

Thứ sáu, kiểm soát sử dụng đất và điều chỉnh quy hoạch; hạn chế đầu cơ, dự án treo, sử dụng đất sai mục đích và điều chỉnh theo lợi ích ngắn hạn.

Thứ bảy, thiết lập hệ thống giám sát công khai. Hằng năm thành phố nên công bố tiến độ bằng chỉ tiêu dễ hiểu để người dân biết cam kết nào đã thực hiện và mục tiêu nào chưa đạt.

XI. ĐỀ XUẤT BỘ CHỈ TIÊU ĐỂ NGƯỜI DÂN GIÁM SÁT QUY HOẠCH

Thay vì chỉ đánh giá bằng số dự án khởi công hay tổng vốn đầu tư, thành phố có thể công bố bảng kết quả hằng năm theo những nhóm chỉ tiêu thiết thực.

Về giao thông: thời gian đi lại bình quân và tỷ lệ sử dụng vận tải công cộng. Về chống ngập: số điểm ngập, thời gian ngập và thiệt hại sau mưa lớn. Về nhà ở: giá nhà so với thu nhập và số căn nhà ở xã hội hoàn thành. Về môi trường: chất lượng không khí, tỷ lệ xử lý nước thải và diện tích cây xanh. Về y tế, giáo dục: khả năng tiếp cận trường học, bệnh viện và mức độ quá tải. Về đầu tư công: tiến độ, đội vốn và hiệu quả vận hành dự án. Về kinh tế: năng suất lao động, việc làm, thu nhập thực tế và chi phí logistics.

Đây là bộ chỉ tiêu đề xuất để giám sát, không phải các chỉ tiêu đã được quy hoạch chính thức quy định đầy đủ. Nếu sau 5 năm chỉ tiêu đời sống không cải thiện, cần đánh giá lại thứ tự ưu tiên và cách thực hiện thay vì chỉ công bố thêm dự án mới.

XII. QUY HOẠCH CHO 100 NĂM NHƯNG NGƯỜI DÂN HÔM NAY CHỜ ĐỢI ĐIỀU GÌ?

Khi nói đến tầm nhìn 100 năm, người ta dễ hình dung cao ốc chọc trời, tuyến metro hiện đại, khu đô thị thông minh và trung tâm tài chính quốc tế. Nhưng với người dân bình thường, mong muốn trước hết có thể giản dị hơn nhiều.

Người lao động mong đi làm không mất quá nhiều thời gian trên đường. Người kinh doanh mong chi phí vận chuyển hợp lý, hàng hóa lưu thông thuận lợi. Người có thu nhập trung bình mong mua hoặc thuê được căn nhà phù hợp. Người cao tuổi mong tiếp cận y tế thuận tiện. Cha mẹ mong con có trường học tốt, môi trường an toàn. Doanh nghiệp mong chính sách ổn định, thủ tục minh bạch, hạ tầng đồng bộ và chi phí có thể dự báo.

Đó chính là nền tảng đô thị đáng sống. Thành phố có thể tăng GDP nhưng nếu chi phí nhà ở, đi lại, y tế và sinh hoạt tăng nhanh hơn thu nhập, chất lượng sống của một bộ phận dân cư vẫn có thể suy giảm.

Cần nhìn hiệu quả quy hoạch không chỉ qua tăng trưởng kinh tế mà qua lợi ích thực tế đến với người dân, đặc biệt là thu nhập sau khi trừ chi phí thiết yếu. Nếu lương tăng 10% nhưng giá nhà, vận tải và sinh hoạt tăng cao hơn, người lao động chưa chắc sống tốt hơn. Đây là vấn đề phải đặt vào trung tâm chính sách đô thị.

XIII. KẾT LUẬN: TẦM NHÌN 100 NĂM PHẢI ĐƯỢC CHỨNG MINH BẰNG KẾT QUẢ CỦA 10 NĂM ĐẦU TIÊN

Việc TP.HCM xây dựng quy hoạch tổng thể với tầm nhìn 100 năm là bước đi có ý nghĩa chiến lược. Sau hợp nhất, thành phố cần cấu trúc mới để khai thác tiềm năng tài chính, công nghiệp, công nghệ, logistics, cảng biển và kinh tế biển. Mô hình đa cực, đa trung tâm có cơ sở khoa học và phù hợp xu hướng của nhiều vùng đô thị lớn.

Tuy nhiên, quy hoạch không tự bảo đảm thành công. Nếu thiếu vốn, kết nối hạ tầng, kỷ luật thực hiện và giám sát, mục tiêu lớn có thể thành gánh nặng cho thế hệ sau. Nếu phát triển đô thị chủ yếu làm tăng giá đất mà không nâng khả năng tiếp cận nhà ở, lợi ích sẽ phân bổ thiếu công bằng. Nếu mở rộng công nghiệp mà không kiểm soát môi trường, tăng trưởng phải trả giá bằng sức khỏe cộng đồng. Nếu xây thêm đường mà không thay đổi cách tổ chức giao thông, ùn tắc vẫn tiếp diễn.

Và nếu nói đến tầm nhìn 100 năm nhưng vấn đề cấp thiết trong 5–10 năm đầu không được cải thiện rõ rệt, niềm tin của người dân sẽ khó được củng cố. Quy hoạch 100 năm không nên đánh giá bằng độ dài tầm nhìn mà bằng chất lượng từng giai đoạn thực hiện.

Thành phố đáng sống không chỉ có công trình hiện đại mà còn là nơi người dân đi lại thuận tiện, có nhà ở phù hợp, được chăm sóc sức khỏe, học tập và làm việc trong môi trường an toàn, có cơ hội nâng thu nhập.

Vì vậy, quy hoạch TP.HCM tầm nhìn 100 năm cần được ủng hộ về khát vọng, đồng thời được phản biện và giám sát nghiêm túc về tính khả thi. Một quy hoạch tốt không chỉ dành cho những người sẽ sống tại thành phố sau 100 năm, mà trước hết phải tạo ra thay đổi tích cực cho hàng triệu người đang sinh sống, lao động và đóng góp hôm nay.

Tầm nhìn có thể kéo dài một thế kỷ, nhưng trách nhiệm phải bắt đầu từ hiện tại. Thành công không nằm ở lời hứa về siêu đô thị tương lai, mà ở kết quả cụ thể người dân có thể cảm nhận qua từng năm phát triển.

TL

DIỄN ĐÀN THỜI NÉT SỐ – GÓC NHÌN CUỐI TUẦN

NGUỒN THÔNG TIN THAM KHẢO

- HĐND TP.HCM: Thông tin về việc thông qua Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025–2050, tầm nhìn 100 năm, ngày 30/10/2026.Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: Nội dung tờ trình Quy hoạch tổng thể

- TP.HCM tầm nhìn 100 năm, tháng 10/2026.HĐND TP.HCM: Thông tin đề xuất mô hình 3 cực động lực trong quá trình góp ý quy hoạch, tháng 6/2026.

- Lưu ý: Các phép tính chi phí ùn tắc và trả góp nhà ở là ví dụ giả định, không phải số liệu thống kê chính thức.

 

Loading...
Xem thêm bài viết