Lê Thảo Nguyên

Người dùng

KHÔNG BỎ BẢO HIỂM BẮT BUỘC XE MÁY: KHÔNG THỂ CHỈ NÓI VỀ Ý NGHĨA NHÂN VĂN MÀ THIẾU NHỮNG CON SỐ CHI TRẢ

DIỄN ĐÀN THỜI NÉT SỐ
Trước kiến nghị của cử tri về việc xem xét bãi bỏ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe máy vì còn mang tính hình thức, thủ tục phức tạp và hiệu quả chưa rõ ràng, Bộ Tài chính khẳng định đây vẫn là chính sách cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của người tham gia giao thông.

Hình minh họa ( Ảnh mạng internet)

Lập luận về mục tiêu nhân văn của bảo hiểm bắt buộc là có cơ sở. Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, điều người dân cần được biết không chỉ là bảo hiểm có ý nghĩa như thế nào trên lý thuyết, mà quan trọng hơn là: mỗi năm thu bao nhiêu tiền, đã giải quyết bao nhiêu vụ tai nạn, chi trả cho bao nhiêu nạn nhân và số tiền thực tế đến được tay người bị thiệt hại là bao nhiêu.

Nếu những câu hỏi đó chưa được trả lời một cách đầy đủ, công khai và dễ kiểm chứng thì rất khó yêu cầu người dân đặt trọn niềm tin vào một chính sách mang tính bắt buộc.

Theo số liệu được Bộ Tài chính dẫn lại, Việt Nam hiện có khoảng 72 triệu xe máy đang lưu hành. Tai nạn liên quan đến mô tô, xe gắn máy chiếm tới 63,48% tổng số vụ tai nạn giao thông. Đây là những con số rất lớn, cho thấy xe máy vẫn là phương tiện gắn trực tiếp với phần lớn rủi ro giao thông trong đời sống hằng ngày.

Với mô tô hai bánh dưới 50 phân khối, mức phí bảo hiểm bắt buộc là 55.000 đồng một năm; đối với mô tô hai bánh từ 50 phân khối trở lên là 60.000 đồng, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng là 150 triệu đồng cho một người trong một vụ tai nạn; đối với thiệt hại về tài sản do xe máy gây ra là 50 triệu đồng trong một vụ.

Nếu tạm lấy mức phí phổ biến 60.000 đồng cho một xe mỗi năm và giả định toàn bộ 72 triệu xe đều tham gia, tổng số phí bảo hiểm có thể lên tới khoảng:

72 triệu xe × 60.000 đồng = 4.320 tỷ đồng mỗi năm.

Ngay cả khi tính theo mức bình quân 57.500 đồng một xe, tổng số tiền cũng vào khoảng 4.140 tỷ đồng mỗi năm.

Tất nhiên, đây chỉ là phép tính giả định trên tổng số xe đang lưu hành, không phải doanh thu thực tế của thị trường bảo hiểm xe máy.

Theo thông tin được công bố, đến năm 2025, tỷ lệ xe máy tham gia bảo hiểm bắt buộc mới chiếm khoảng 17% tổng số xe đang lưu hành. Nếu lấy 17% của 72 triệu xe, tương đương khoảng 12,24 triệu xe tham gia bảo hiểm.

Với mức phí bình quân khoảng 57.500 đồng một xe, tổng số phí thu ước tính khoảng 704 tỷ đồng một năm. Nếu phần lớn phương tiện thuộc nhóm trên 50 phân khối, áp dụng mức 60.000 đồng, số phí có thể vào khoảng 734 tỷ đồng, chưa tính thuế và chưa tính các điều chỉnh tăng, giảm phí theo quy định.

Con số hơn 700 tỷ đồng mỗi năm không phải là nhỏ.

Vì vậy, khi người dân đặt câu hỏi về hiệu quả của bảo hiểm bắt buộc xe máy, cơ quan quản lý và doanh nghiệp bảo hiểm không nên chỉ trả lời rằng mức phí thấp, mức bồi thường cao hay chính sách mang ý nghĩa nhân văn.

Điều cần công khai là tỷ lệ giữa tiền thu và tiền đã thực sự chi trả.

Trong số hơn 12 triệu xe được cho là đã mua bảo hiểm, mỗi năm có bao nhiêu chủ xe yêu cầu bồi thường? Bao nhiêu hồ sơ được chấp nhận? Bao nhiêu hồ sơ bị từ chối? Tổng số tiền đã chi trả cho các vụ tai nạn xe máy là bao nhiêu? Thời gian giải quyết bình quân kéo dài bao lâu? Những nguyên nhân nào khiến người dân không được nhận tiền bảo hiểm?

Đó mới là những chỉ số phản ánh chính xác hiệu quả của chính sách.

Thực tế, không ít người dân cho rằng rất hiếm khi nhìn thấy doanh nghiệp bảo hiểm xuất hiện hoặc thực hiện việc chi trả sau các vụ tai nạn xe máy. Nhận định này có thể xuất phát từ việc người dân không hiểu thủ tục, không thông báo đúng thời hạn, không lưu giữ hồ sơ hoặc vụ việc thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm.

Nhưng cũng không thể loại trừ nguyên nhân từ phía doanh nghiệp bảo hiểm: tư vấn không đầy đủ, điểm bán chỉ tập trung phát hành giấy chứng nhận, người mua không được hướng dẫn quyền lợi; khi xảy ra tai nạn thì việc tiếp nhận, xác minh và giải quyết còn chậm hoặc phát sinh nhiều yêu cầu giấy tờ.

Nếu người dân mua bảo hiểm ở vỉa hè, cây xăng, đại lý hoặc trên mạng chỉ trong vài phút, nhưng khi yêu cầu bồi thường lại phải đi qua một hành trình phức tạp thì chính sách rất dễ bị nhìn nhận như một nghĩa vụ đóng tiền hơn là một cơ chế bảo vệ.

Vấn đề không nằm ở 55.000 hay 60.000 đồng.

Đối với từng người dân, số tiền đó có thể không lớn. Nhưng khi được thu trên hàng triệu phương tiện, tổng số tiền trở thành hàng trăm, thậm chí có thể lên đến hàng nghìn tỷ đồng nếu tỷ lệ tham gia tăng cao.

Một chính sách bắt buộc liên quan tới nguồn tiền lớn của xã hội phải đi kèm với trách nhiệm giải trình tương xứng.

Không thể chỉ công bố số xe đang lưu hành, tỷ lệ tai nạn hay mức bồi thường tối đa mà không đồng thời công bố số tiền bồi thường thực tế.

Mức bồi thường tối đa 150 triệu đồng không đồng nghĩa rằng cứ xảy ra chết người là doanh nghiệp đương nhiên chi trả đủ 150 triệu đồng. Mức bồi thường cụ thể còn phụ thuộc vào loại thiệt hại, mức độ lỗi, hồ sơ vụ việc, thỏa thuận hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Vì vậy, đưa ra con số “có thể được bồi thường đến 150 triệu đồng” chỉ mới phản ánh giới hạn pháp lý, chưa nói lên hiệu quả thực tế.

Người dân cần biết bình quân một vụ tai nạn xe máy đã được chi trả bao nhiêu tiền. Có bao nhiêu trường hợp tử vong được bồi thường đủ mức theo quy định. Bao nhiêu trường hợp chỉ được chi trả một phần. Bao nhiêu gia đình không nhận được tiền và lý do vì sao.

Theo Nghị định số 67/2023/NĐ-CP, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm hạch toán tách biệt doanh thu phí, hoa hồng đại lý, tiền bồi thường và các chi phí liên quan đến bảo hiểm bắt buộc; đồng thời phải lập báo cáo về tình hình thực hiện loại hình bảo hiểm này gửi Bộ Tài chính. Điều đó có nghĩa là các số liệu về doanh thu và bồi thường không phải không tồn tại.

Câu hỏi đặt ra là tại sao những dữ liệu có ý nghĩa trực tiếp với hàng chục triệu chủ xe lại chưa được công khai thường xuyên dưới hình thức đơn giản để người dân có thể theo dõi và giám sát?

Mỗi năm, cơ quan quản lý hoàn toàn có thể công bố một bảng số liệu thống nhất gồm: tổng số hợp đồng bảo hiểm xe máy; tổng phí đã thu; tổng số vụ tai nạn được thông báo; số hồ sơ đã giải quyết; số hồ sơ bị từ chối; tổng tiền bồi thường; thời gian giải quyết bình quân; số doanh nghiệp bị thanh tra, xử lý và số tiền phải trả bổ sung cho khách hàng.

Khi có đầy đủ những con số đó, người dân sẽ tự đánh giá được bảo hiểm bắt buộc xe máy có thực sự phát huy hiệu quả hay chỉ đang tồn tại trên giấy.

Không nên quy trách nhiệm cho người dân rằng họ chưa hiểu “ý nghĩa nhân văn” của bảo hiểm, trong khi phần lớn người mua chỉ được trao một tờ giấy chứng nhận mà không được giải thích rõ cách sử dụng.

Một sản phẩm thực sự có ích phải được chứng minh bằng quyền lợi mà người dân nhận được khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, chứ không thể chủ yếu được duy trì bằng nghĩa vụ bắt buộc và nguy cơ bị xử phạt.

Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục rà soát, sửa đổi quy định, cắt giảm chi phí trung gian, tăng nguồn lực chi trả và xử lý nghiêm doanh nghiệp gây khó khăn cho khách hàng. Đáng chú ý, Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 67/2023/NĐ-CP đã có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Nhưng sửa đổi chính sách chỉ có ý nghĩa khi người bị tai nạn thực sự nhận được tiền nhanh hơn, thủ tục ngắn hơn và doanh nghiệp không thể né tránh trách nhiệm bằng những yêu cầu hồ sơ mà người dân bình thường khó đáp ứng.

Giữ hay bỏ bảo hiểm bắt buộc xe máy không nên được quyết định chỉ bằng một phía: cơ quan quản lý khẳng định cần thiết hoặc cử tri cho rằng hình thức.

Câu trả lời phải nằm trong dữ liệu thực tế.

Nếu số tiền bồi thường hợp lý, số người được bảo vệ lớn, thủ tục thuận lợi và doanh nghiệp thực hiện đúng trách nhiệm thì chính sách cần được duy trì, hoàn thiện.

Ngược lại, nếu doanh thu phí rất lớn nhưng tỷ lệ chi trả thấp, phần lớn người dân không tiếp cận được quyền lợi, chi phí bán hàng và vận hành chiếm tỷ trọng cao thì việc tiếp tục bắt buộc phải được xem xét nghiêm túc.

Bảo hiểm bắt buộc không thể chỉ bắt buộc người dân đóng tiền.

Nó còn phải bắt buộc doanh nghiệp minh bạch, bắt buộc cơ quan quản lý công khai số liệu và bắt buộc quá trình bồi thường phải thực chất.

Khi hàng trăm tỷ đồng được thu mỗi năm từ hàng triệu chủ xe, câu hỏi “tiền đã đi đâu và đã giúp được bao nhiêu nạn nhân?” là câu hỏi hoàn toàn chính đáng.

Chỉ khi trả lời được câu hỏi đó bằng những con số minh bạch, chính sách bảo hiểm bắt buộc xe máy mới có thể thoát khỏi hình ảnh một tờ giấy mua để đối phó và trở thành đúng nghĩa một công cụ bảo vệ cộng đồng.

BT: HÀ LÊ

DIỄN ĐÀN THỜI NÉT SỐ

 

Loading...
Xem thêm bài viết