Lê Thảo Nguyên

Người dùng

HÀNH TRÌNH VỀ ĐẤT PHƯƠNG NAM: VIẾNG CHA DIỆP, THĂM NHÀ CÔNG TỬ BẠC LIÊU VÀ KHÁM PHÁ ĐẶC SẢN CÀ MAU

Từ Nhà thờ Tắc Sậy linh thiêng, ngôi nhà cổ gắn với những giai thoại về Công tử Bạc Liêu đến vùng rừng – biển Cà Mau, chuyến đi không chỉ đưa du khách qua những miền đất nổi tiếng mà còn mở ra nhiều câu chuyện về lịch sử, tín ngưỡng, văn hóa và con người Nam Bộ.

Nhà thờ Tắc Sậy – nơi hành hương gắn với Cha Trương Bửu Diệp( Ảnh Hà Lê)

Sau khi hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau được hợp nhất, địa danh Bạc Liêu vẫn còn nguyên trong ký ức và tình cảm của nhiều thế hệ. Người ta vẫn nhắc đến “xứ Công tử Bạc Liêu”, Nhà thờ Tắc Sậy – Cha Diệp và những món ăn mang đậm hương vị giao thoa Việt – Hoa – Khmer. Đi tiếp về phương Nam là Cà Mau với rừng U Minh, cua biển, ba khía Rạch Gốc và những bữa cơm đậm đà hương vị Đất Mũi.

Hành trình về miền đất cuối trời Nam

Từ Thành phố Hồ Chí Minh, du khách có thể theo tuyến cao tốc TP.HCM – Trung Lương, tiếp tục qua khu vực Mỹ Thuận, Cần Thơ, Hậu Giang và Sóc Trăng để đến vùng Bạc Liêu. Nếu đi ô tô, hành trình thường mất phần lớn một ngày, tùy tình hình giao thông và số lần dừng nghỉ.

Điểm đến đầu tiên nên lựa chọn là Nhà thờ Tắc Sậy, hiện thuộc xã Phong Thạnh, tỉnh Cà Mau. Từ đây, du khách tiếp tục về khu trung tâm Bạc Liêu, tham quan Nhà Công tử Bạc Liêu, nghỉ ngơi, thưởng thức đặc sản địa phương rồi sáng hôm sau đi về thành phố Cà Mau hoặc Đất Mũi.

Đây là cung đường phù hợp cho chuyến đi hai ngày một đêm hoặc ba ngày hai đêm. Người cao tuổi nên chọn lịch trình thong thả, tránh di chuyển quá khuya và dành đủ thời gian nghỉ tại Nhà thờ Tắc Sậy.

Nhà thờ Tắc Sậy – nơi hành hương gắn với Cha Trương Bửu Diệp

Nhà thờ Tắc Sậy nằm cạnh Quốc lộ 1, từ lâu đã trở thành một trong những trung tâm hành hương Công giáo nổi tiếng nhất miền Tây Nam Bộ. Không chỉ giáo dân mà rất nhiều người thuộc các tôn giáo khác cũng tìm về đây để cầu nguyện, tưởng nhớ một vị linh mục được nhân dân kính trọng bởi lòng bác ái và sự hy sinh vì cộng đồng.

Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp sinh ngày 1/1/1897 tại họ đạo Cồn Phước, thuộc vùng An Giang ngày nay. Ngài được thụ phong linh mục năm 1924 và về coi sóc họ đạo Tắc Sậy từ năm 1930.

Trong bối cảnh xã hội nhiều biến động năm 1946, Cha Diệp bị bắt cùng với nhiều giáo dân. Theo tư liệu của Giáo hội, ngài đã lựa chọn ở lại để bảo vệ đoàn chiên và hy sinh ngày 12/3/1946. Cuộc đời của ngài gắn với tinh thần của một người mục tử không rời bỏ giáo dân trong lúc hiểm nguy.

Ngày 2/7/2026, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy, Cha Trương Bửu Diệp chính thức được Giáo hội Công giáo tuyên phong Chân phước. Ngày 12/3 hằng năm được chọn làm ngày kính nhớ Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

Đến Tắc Sậy, du khách có thể viếng phần mộ Cha Diệp, tham quan thánh đường, tượng đài và khu vực quảng trường hành lễ. Không gian rộng lớn nhưng vẫn giữ được vẻ trang nghiêm, tĩnh lặng. Trong dòng người đến viếng, có người cầu sức khỏe, người cầu bình an cho gia đình, cũng có người chỉ lặng lẽ thắp một nén lòng để tìm sự thanh thản.

Điều còn lại sau chuyến viếng không chỉ là câu chuyện về sự linh thiêng, mà sâu xa hơn là bài học về lòng nhân ái: trong hoàn cảnh nguy nan, một con người đã lựa chọn ở lại, che chở và hy sinh vì những người mình có trách nhiệm chăm sóc.

Du khách đến đây nên ăn mặc lịch sự, giữ trật tự, không nói cười lớn trong khu vực hành lễ và hạn chế chụp ảnh khi đang có thánh lễ. Nếu đi vào dịp tháng 3 hoặc những ngày lễ lớn, cần chủ động thời gian vì lượng khách hành hương thường rất đông.

Nhà Công tử Bạc Liêu – dấu tích của một thời vàng son

Rời Tắc Sậy, hành trình tiếp tục về trung tâm Bạc Liêu để thăm ngôi nhà gắn với tên tuổi Công tử Bạc Liêu – Trần Trinh Huy, còn được gọi là Ba Huy.

Ngôi nhà được xây dựng trong giai đoạn 1917–1919, do người Pháp thiết kế, mang đậm phong cách kiến trúc phương Tây. Phần lớn vật liệu như thép đúc, cửa, đá lát nền và các chi tiết trang trí được đưa từ Pháp sang. Công trình được xem là một trong những dinh thự nổi bật nhất vùng Nam Kỳ lúc bấy giờ.

Chủ nhân xây dựng ngôi nhà là ông Trần Trinh Trạch, một điền chủ giàu có nổi tiếng ở miền Tây đầu thế kỷ XX. Người con trai được biết đến nhiều nhất của ông là Trần Trinh Huy, sinh năm 1900. Từ cuộc sống giàu sang và phong cách tiêu tiền phóng khoáng của Ba Huy, dân gian hình thành nhiều giai thoại về “Công tử Bạc Liêu”.

Trong số đó, nổi tiếng nhất là câu chuyện đốt tiền để nấu chè và những cuộc thi ăn chơi giữa các công tử. Tuy nhiên, phần lớn câu chuyện đã được truyền miệng qua nhiều thế hệ, có thể được thêm thắt, vì vậy cần nhìn nhận đó là giai thoại dân gian chứ không nên xem tất cả là sự kiện lịch sử đã được kiểm chứng.

Bước vào ngôi nhà, du khách có thể cảm nhận phần nào cuộc sống của một gia đình giàu có Nam Bộ hơn một thế kỷ trước. Những bộ bàn ghế khảm xà cừ, giường ngủ, đồ gốm sứ, máy hát, điện thoại cổ cùng cách bố trí phòng khách, cầu thang và hành lang đều mang dấu ấn của một thời vàng son.

Giá trị của ngôi nhà không nằm ở chuyện khoe giàu hay những thú vui xa hoa. Đây còn là một chứng tích phản ánh sự phân hóa xã hội, đời sống điền chủ và sự giao thoa kiến trúc Đông – Tây tại Nam Bộ đầu thế kỷ XX.

Đứng trong căn biệt thự cổ, du khách có thể hình dung lại một Bạc Liêu từng phồn thịnh nhờ ruộng lúa, muối và hoạt động thương mại; đồng thời suy ngẫm về sự đổi thay của giàu sang trước dòng chảy thời gian. Tiền bạc có thể tạo nên danh tiếng nhất thời, nhưng những gì tồn tại lâu dài vẫn là giá trị lịch sử, văn hóa và những bài học để lại cho hậu thế.

Từ Bạc Liêu đi Cà Mau – càng về Nam càng đậm hương sông nước

Sau một đêm nghỉ tại khu vực trung tâm Bạc Liêu, du khách có thể tiếp tục hành trình về thành phố Cà Mau. Nếu có thêm thời gian, nên đi Đất Mũi, thăm cột mốc tọa độ quốc gia, biểu tượng con tàu hướng ra biển và hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Cà Mau là vùng đất được bồi đắp bởi phù sa, nơi rừng gặp biển và nước ngọt giao hòa với nước mặn. Con người nơi đây chân tình, phóng khoáng; món ăn không quá cầu kỳ nhưng đậm vị, thể hiện rõ đời sống gắn với sông rạch, rừng tràm và biển cả.

Nếu chưa đủ thời gian xuống Đất Mũi, du khách có thể tham quan thành phố Cà Mau, thưởng thức đặc sản địa phương, mua quà rồi trở lại TP.HCM. Với hành trình ba ngày hai đêm, chuyến đi sẽ thoải mái và có điều kiện khám phá sâu hơn vùng rừng U Minh hoặc huyện Ngọc Hiển.

Những đặc sản không nên bỏ qua ở vùng Bạc Liêu

Bún bò cay

Đây là món ăn nổi tiếng của xứ Bạc Liêu. Nước dùng có màu đỏ đẹp mắt, thơm mùi sả và ớt, thịt bò được hầm mềm nhưng không nát. Khi ăn thường dùng kèm rau sống, chanh, muối ớt và bánh mì.

Vị cay của món ăn khá mạnh, vì vậy người không quen ăn cay hoặc có bệnh dạ dày nên dặn quán giảm ớt.

Bánh củ cải

Bánh củ cải là món ăn chịu ảnh hưởng của văn hóa ẩm thực người Hoa. Vỏ bánh được làm từ bột kết hợp củ cải trắng; nhân thường có tôm khô, thịt và củ cải thái sợi. Bánh có thể được hấp hoặc chiên, vị vừa ngọt vừa mặn, thơm mùi tiêu và hành.

Bánh tằm Ngan Dừa

Sợi bánh tằm mềm, ăn cùng bì, thịt, nước cốt dừa và nước mắm chua ngọt. Sự kết hợp giữa vị béo, mặn, ngọt tạo nên hương vị rất riêng, tưởng như đối lập nhưng lại hài hòa.

Bồn bồn

Bồn bồn có thể làm dưa chua, xào tôm, nấu canh hoặc ăn kèm cá kho. Dưa bồn bồn giòn, có vị chua thanh, thích hợp mua về làm quà.

Nhãn da bò và xá pấu

Nhãn da bò có lớp vỏ khá dày, thịt mọng, vị ngọt thanh. Xá pấu là củ cải muối, có thể ăn với cháo trắng, cơm hoặc chế biến cùng trứng. Đây đều là những món quà mang đậm phong vị Bạc Liêu.

Đặc sản Cà Mau – hương vị của rừng và biển

Cua Cà Mau

Nhắc đến Cà Mau, trước hết phải nhắc đến cua biển. Cua chắc thịt, vị ngọt; cua gạch có phần gạch béo, thơm. Cách thưởng thức ngon nhất đôi khi chỉ đơn giản là hấp hoặc luộc để giữ nguyên vị tự nhiên.

Khi mua cua, nên chọn cơ sở có uy tín, hỏi rõ cua thịt hay cua gạch và yêu cầu cân trực tiếp, tránh mua theo lời chào mời thiếu minh bạch.

Ba khía Rạch Gốc

Ba khía là loại giáp xác sống ở vùng nước mặn, nước lợ và rừng ngập mặn. Ba khía muối có thể trộn cùng đường, tỏi, ớt, chanh và khế, ăn với cơm nóng rất bắt vị.

Món ăn dân dã này gắn với đời sống của người dân vùng biển, đặc biệt là khu vực Rạch Gốc – Ngọc Hiển.

Tôm khô Rạch Gốc

Tôm tươi sau khi luộc, phơi hoặc sấy tạo thành những con tôm khô có màu đỏ tự nhiên, vị ngọt và thơm. Tôm khô có thể dùng nấu canh, làm gỏi, kho quẹt hoặc ăn cùng củ kiệu.

Mật ong rừng U Minh

Mật ong U Minh gắn với những cánh rừng tràm. Mật có màu vàng sậm, mùi thơm riêng và thường được mua làm quà. Du khách nên chọn sản phẩm có nguồn gốc, nhãn mác rõ ràng, không nên mua mật trôi nổi chỉ dựa vào lời quảng cáo “mật rừng nguyên chất”.

Lẩu mắm U Minh

Nồi lẩu mắm thơm nồng, có cá, tôm, mực và nhiều loại rau đồng, rau rừng như bông súng, rau đắng, đọt choại. Đây là món ăn thể hiện rõ sự phong phú của sản vật vùng U Minh.

Cá thòi lòi và cá kèo

Cá thòi lòi có thể nướng muối ớt, kho tiêu hoặc làm khô. Cá kèo thường được nấu lẩu lá giang, kho rau răm hoặc nướng. Đây đều là những món mang đậm dấu ấn vùng đất bãi bồi, rừng ngập mặn.

Một hành trình có nhiều hơn những điểm đến

Chuyến đi qua Tắc Sậy, Bạc Liêu và Cà Mau không chỉ để chụp vài bức ảnh hay thưởng thức những món ăn ngon.

Ở Nhà thờ Tắc Sậy là câu chuyện về một vị mục tử đã chọn hy sinh để bảo vệ cộng đồng. Trong ngôi nhà Công tử Bạc Liêu là dấu tích về sự giàu sang, những giai thoại và sự đổi thay của thời cuộc. Còn khi về đến Cà Mau, du khách lại bắt gặp sự hào sảng của con người miền sông nước, vẻ đẹp của rừng và biển cùng những sản vật được thiên nhiên ban tặng.

Mỗi vùng đất đều có lịch sử và hồn cốt riêng. Đi để hiểu rằng miền Tây không chỉ có sông nước hữu tình, mà còn là nơi lưu giữ những câu chuyện về tín ngưỡng, tình người, sự thịnh suy và sức sống bền bỉ của cư dân phương Nam.

HÀ LÊ

 

Loading...
Xem thêm bài viết