Lê Khánh Ngân

Người dùng

GIẢM TRỪ GIA CẢNH TỪ NĂM 2026: ĐỪNG ĐỂ NGƯỜI LAO ĐỘNG MẤT QUYỀN LỢI CHỈ VÌ CHƯA HIỂU QUY ĐỊNH MỚI

Mỗi người phụ thuộc được giảm trừ 6,2 triệu đồng/tháng; dữ liệu Nhà nước đã có và cơ quan thuế khai thác được thì người nộp thuế không phải cung cấp lại giấy tờ tương ứng

TƯ VẤN PHÁP LUẬT – THỜI NÉT SỐ

Giảm trừ gia cảnh tưởng như chỉ là một phép tính khi quyết toán thuế thu nhập cá nhân, nhưng trên thực tế lại liên quan trực tiếp đến túi tiền của hàng triệu người lao động.

Một người đang nuôi hai con nhỏ; một công nhân trực tiếp nuôi cha mẹ già; một cán bộ có con đang học đại học; hay một người đang trực tiếp nuôi dưỡng người thân không nơi nương tựa... nếu thuộc đúng đối tượng và đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật thì việc đăng ký người phụ thuộc có thể làm thay đổi đáng kể số thuế thu nhập cá nhân phải nộp.

Từ năm 2026, vấn đề này càng đáng quan tâm khi chính sách thuế thu nhập cá nhân có những thay đổi lớn cả về mức giảm trừ gia cảnh lẫn cách chứng minh người phụ thuộc.

Đặc biệt, Thông tư số 87/2026/TT-BTC đặt ra một nguyên tắc rất đáng chú ý:

Thông tin Nhà nước đã có và cơ quan thuế khai thác, sử dụng được thì không yêu cầu người nộp thuế tiếp tục cung cấp giấy tờ để chứng minh lại.

Chỉ khi không thể khai thác, sử dụng được dữ liệu cần thiết thì người nộp thuế mới phải cung cấp các giấy tờ liên quan theo quy định.

Đằng sau một quy định tưởng như mang tính thủ tục là sự thay đổi đáng kể về tư duy quản lý: từ việc người dân phải mang giấy tờ đi chứng minh sang việc cơ quan nhà nước chủ động khai thác dữ liệu mà Nhà nước đã quản lý.

QUYỀN LỢI KHÔNG NHỎ: MỖI NGƯỜI PHỤ THUỘC ĐƯỢC GIẢM TRỪ 6,2 TRIỆU ĐỒNG/THÁNG

Theo chính sách thuế thu nhập cá nhân áp dụng từ ngày 1/7/2026, mức giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế là:

15,5 triệu đồng/tháng, tương đương 186 triệu đồng/năm.

Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là:

6,2 triệu đồng/tháng.

Đây là những con số người lao động cần đặc biệt quan tâm.

Bởi giảm trừ gia cảnh không phải là khoản tiền Nhà nước trả trực tiếp cho người lao động, mà là khoản được trừ khỏi thu nhập theo quy định trước khi xác định thu nhập tính thuế.

Do đó, nếu một người có người phụ thuộc đủ điều kiện nhưng không đăng ký hoặc đăng ký không đúng thì quyền lợi thuế của chính người đó có thể bị ảnh hưởng.

Ví dụ dễ hiểu

Một người lao động có 2 người phụ thuộc đủ điều kiện.

Mức giảm trừ cho bản thân:

15,5 triệu đồng/tháng.

Mức giảm trừ cho 2 người phụ thuộc:

6,2 triệu đồng × 2 = 12,4 triệu đồng/tháng.

Tổng mức giảm trừ gia cảnh tương ứng:

27,9 triệu đồng/tháng.

Nếu có 3 người phụ thuộc đủ điều kiện, con số tương ứng sẽ là:

15,5 triệu + (6,2 triệu × 3) = 34,1 triệu đồng/tháng.

Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý: những con số trên là mức giảm trừ gia cảnh, không nên hiểu máy móc rằng cứ thu nhập dưới 27,9 triệu đồng hoặc 34,1 triệu đồng/tháng thì trong mọi trường hợp đều không phải nộp thuế.

Việc xác định số thuế thực tế còn phụ thuộc loại thu nhập, các khoản bảo hiểm bắt buộc, khoản đóng góp, khoản giảm trừ khác và quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế.

Nhưng điều có thể khẳng định là: đăng ký đúng và đủ người phụ thuộc sẽ bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế.

AI CÓ THỂ LÀ NGƯỜI PHỤ THUỘC?

Đây là câu hỏi rất nhiều người lao động quan tâm.

Không phải cứ sống chung, gửi tiền hàng tháng hoặc trực tiếp chăm sóc một người là đương nhiên được đăng ký người đó làm người phụ thuộc.

Pháp luật xác định từng nhóm đối tượng và điều kiện cụ thể.

1. Con của người nộp thuế

Thông tư 87/2026/TT-BTC quy định hồ sơ đối với con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng.

Tùy trường hợp, căn cứ xác định quan hệ có thể là giấy khai sinh, quyết định nhận cha, mẹ, con, quyết định hoặc giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi, giấy chứng nhận kết hôn và các giấy tờ hợp pháp khác.

Đối với con từ đủ 18 tuổi trở lên là người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người khuyết tật, ngoài hồ sơ chứng minh quan hệ cha mẹ - con còn phải có giấy tờ chứng minh tình trạng tương ứng.

Đối với con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc thuộc trường hợp đang học phổ thông theo quy định thì cần có tài liệu chứng minh việc đang theo học.

Đây là nhóm người phụ thuộc phổ biến nhất đối với người lao động.

2. Vợ hoặc chồng

Vợ hoặc chồng cũng có thể thuộc diện người phụ thuộc nếu đáp ứng điều kiện của pháp luật thuế.

Hồ sơ chứng minh quan hệ cơ bản gồm căn cước và giấy chứng nhận kết hôn hoặc giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền cấp chứng minh quan hệ vợ chồng.

Điều cần nhớ là:

Có giấy đăng ký kết hôn chưa đủ để mặc nhiên được giảm trừ.

Người vợ hoặc chồng được kê khai còn phải đáp ứng các điều kiện về người phụ thuộc theo quy định.

3. Cha mẹ cũng có thể được đăng ký

Thông tư quy định khá chi tiết các trường hợp:

Cha đẻ, mẹ đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi; cha vợ, mẹ vợ; cha chồng, mẹ chồng; cha dượng, mẹ kế.

Tùy từng trường hợp, hồ sơ có thể dựa trên căn cước, giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, giấy tờ về nuôi con nuôi hoặc tài liệu khác của cơ quan có thẩm quyền.

Đây là quyền lợi rất đáng lưu ý đối với những người đang trực tiếp có trách nhiệm nuôi dưỡng cha mẹ.

4. Người thân không nơi nương tựa được trực tiếp nuôi dưỡng

Đây là nhóm dễ bị hiểu nhầm nhất.

Thông tư quy định hồ sơ đối với cá nhân khác không nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng gồm các tài liệu như căn cước, bảng kê khai người phải trực tiếp nuôi dưỡng, giấy tờ chứng minh quan hệ và giấy tờ chứng minh nghĩa vụ nuôi dưỡng nếu có.

Điều này có nghĩa:

Việc có tình cảm, thường xuyên giúp đỡ hoặc gửi tiền cho một người không tự động làm phát sinh quyền giảm trừ gia cảnh.

Người đó phải thuộc đúng nhóm đối tượng và đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp luật.

“KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG LAO ĐỘNG” KHÔNG THỂ CHỈ XÁC NHẬN BẰNG CẢM TÍNH

Một điểm mới cần đặc biệt chú ý liên quan đến người không có khả năng lao động.

Khoản 5 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC quy định ngoài hồ sơ chứng minh quan hệ tương ứng, hồ sơ xác định người phụ thuộc cần có giấy tờ chứng minh người đó có:

Tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, được xác định theo quy định của pháp luật.

Quy định này giúp tạo ra tiêu chí rõ ràng hơn.

Không thể chỉ dựa vào nhận định như “tuổi cao”, “sức khỏe yếu”, “không đi làm” hoặc xác nhận mang tính chung chung để mặc nhiên kết luận một người không có khả năng lao động.

THAY ĐỔI QUAN TRỌNG NHẤT: DỮ LIỆU THAY DẦN GIẤY TỜ

Nếu chỉ đọc danh mục hồ sơ tại Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC, nhiều người có thể đặt câu hỏi:

“Quy định mới ở đâu khi vẫn thấy giấy khai sinh, căn cước, giấy chứng nhận kết hôn, giấy xác nhận khuyết tật...?”

Câu trả lời nằm ở khoản 9 Điều 4.

Theo quy định này, trên cơ sở thông tin đăng ký thuế, cơ quan thuế khai thác và sử dụng thông tin trong:

Cổng Dịch vụ công Quốc gia;

Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính;

Cơ sở dữ liệu quốc gia;

Cơ sở dữ liệu chuyên ngành do cơ quan nhà nước quản lý.

Những thông tin được chia sẻ và khai thác theo pháp luật được sử dụng làm căn cứ xác định người phụ thuộc.

Chỉ khi cơ quan thuế không thể khai thác, sử dụng được dữ liệu xác định người phụ thuộc thì người nộp thuế mới phải cung cấp giấy tờ liên quan.

Đây chính là điểm người lao động cần biết để bảo vệ quyền lợi của mình.

TÌNH HUỐNG THỰC TẾ: CÓ PHẢI PHOTOCOPY GIẤY KHAI SINH CỦA CON NỘP LẠI?

Giả sử chị B làm việc tại một doanh nghiệp và đăng ký con làm người phụ thuộc.

Thông tin về chị B và người con đã được đăng ký đầy đủ; quan hệ mẹ - con thể hiện trong dữ liệu hộ tịch, dân cư và cơ quan thuế có thể khai thác, sử dụng được theo quy định.

Theo nguyên tắc tại khoản 9 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC, dữ liệu đó được sử dụng làm căn cứ xác định người phụ thuộc.

Như vậy, không nên máy móc yêu cầu người lao động tiếp tục photocopy một loại giấy tờ chỉ để chứng minh lại thông tin mà hệ thống đã khai thác được.

Ngược lại, nếu dữ liệu chưa đồng bộ hoặc cơ quan thuế không thể khai thác, sử dụng được thì người nộp thuế phải cung cấp giấy tờ theo quy định.

Do đó cần phân biệt:

Không yêu cầu nộp lại giấy tờ khi khai thác được dữ liệu không đồng nghĩa với bãi bỏ toàn bộ hồ sơ chứng minh người phụ thuộc.

NẾU DỮ LIỆU SAI THÌ SAO?

Đây sẽ là vấn đề thực tế rất đáng quan tâm khi chuyển từ hồ sơ giấy sang dữ liệu số.

Ví dụ:

Họ tên giữa căn cước và giấy khai sinh chưa thống nhất;

ngày tháng năm sinh bị sai;

quan hệ cha mẹ - con chưa được cập nhật đầy đủ;

thông tin hộ tịch cũ chưa được số hóa;

hoặc dữ liệu giữa các hệ thống chưa đồng bộ.

Khi đó, việc đăng ký người phụ thuộc có thể phát sinh vướng mắc.

Người lao động nên kiểm tra lại dữ liệu cá nhân và dữ liệu hộ tịch của gia đình trước khi đến kỳ đăng ký, quyết toán thuế.

Nếu phát hiện thông tin sai, cần thực hiện thủ tục điều chỉnh tại cơ quan có thẩm quyền thay vì chờ đến lúc quyết toán thuế mới xử lý.

DOANH NGHIỆP CÓ ĐƯỢC YÊU CẦU NGƯỜI LAO ĐỘNG NỘP TOÀN BỘ HỒ SƠ GIẤY?

Đây cũng là vấn đề đáng lưu ý.

Khoản 8 Điều 4 quy định tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập có trách nhiệm lưu giữ, cung cấp đầy đủ hồ sơ chứng minh người phụ thuộc phục vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán và các trường hợp khác theo quy định.

Nhưng đồng thời khoản 9 lại quy định việc khai thác dữ liệu nhà nước để xác định người phụ thuộc.

Hai quy định cần được đọc trong một chỉnh thể.

Không nên hiểu khoản 8 theo hướng doanh nghiệp được mặc nhiên yêu cầu tất cả người lao động phải photocopy toàn bộ giấy tờ trong mọi trường hợp, bất kể dữ liệu đã được cơ quan thuế khai thác được hay chưa.

Ngược lại, cũng không nên hiểu khoản 9 theo hướng doanh nghiệp không còn trách nhiệm quản lý hồ sơ.

Số hóa phải đi cùng với thay đổi quy trình quản lý.

NGƯỜI LAO ĐỘNG PHẢI TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ KÊ KHAI

Thủ tục được đơn giản hóa nhưng trách nhiệm của người nộp thuế không hề bị loại bỏ.

Khoản 6 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC quy định người nộp thuế tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của việc đăng ký, thay đổi người phụ thuộc và việc kê khai thu nhập của người phụ thuộc.

Nếu phát hiện kê khai không đúng thì sẽ bị xử lý theo pháp luật về quản lý thuế và pháp luật có liên quan.

Điều này cho thấy một nguyên tắc mới rất rõ:

Nhà nước giảm giấy tờ nhưng tăng khả năng kiểm tra bằng dữ liệu.

Vì vậy, người lao động tuyệt đối không nên vì thủ tục thuận lợi hơn mà kê khai người không đủ điều kiện làm người phụ thuộc.

5 ĐIỀU NGƯỜI LAO ĐỘNG NHẤT ĐỊNH PHẢI NHỚ

1. Đừng bỏ quên quyền đăng ký người phụ thuộc

Mỗi người phụ thuộc đủ điều kiện được giảm trừ 6,2 triệu đồng/tháng theo mức áp dụng từ ngày 1/7/2026.

Một gia đình có hai người phụ thuộc đủ điều kiện tương ứng với khoản giảm trừ người phụ thuộc 12,4 triệu đồng mỗi tháng.

Đây là quyền lợi trực tiếp khi tính thuế TNCN.

2. Nhà nước có dữ liệu và cơ quan thuế khai thác được thì không phải chứng minh lại bằng giấy

Đây là điểm mới rất quan trọng.

Người lao động nên biết quy định tại khoản 9 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC để tránh phải chuẩn bị những giấy tờ không cần thiết.

3. Phải kiểm tra mình có đúng đối tượng và đủ điều kiện hay không

Không phải cứ nuôi con, nuôi cha mẹ hoặc hỗ trợ người thân là tự động được giảm trừ.

Cần kiểm tra cả quan hệ với người phụ thuộc, độ tuổi, khả năng lao động, thu nhập và các điều kiện khác theo quy định tương ứng.

4. Kiểm tra dữ liệu trước kỳ quyết toán thuế

Căn cước, giấy khai sinh, quan hệ cha mẹ - con, thông tin kết hôn và dữ liệu hộ tịch nên thống nhất.

Dữ liệu càng chính xác thì thủ tục điện tử càng thuận lợi.

5. Kê khai đúng bởi người nộp thuế vẫn phải chịu trách nhiệm

Dữ liệu điện tử giúp thủ tục đơn giản hơn nhưng đồng thời giúp cơ quan quản lý đối chiếu thông tin thuận lợi hơn.

Đừng đăng ký người phụ thuộc không đủ điều kiện chỉ để giảm số thuế phải nộp.

BA CÂU HỎI NGƯỜI LAO ĐỘNG NÊN TỰ KIỂM TRA

Trước khi đăng ký người phụ thuộc, có thể tự đặt ba câu hỏi:

Thứ nhất: Người tôi đang trực tiếp nuôi dưỡng có thuộc nhóm người phụ thuộc mà pháp luật quy định không?

Thứ hai: Người đó đã đáp ứng đầy đủ điều kiện về tuổi, thu nhập, khả năng lao động và các điều kiện liên quan chưa?

Thứ ba: Thông tin về quan hệ giữa tôi và người phụ thuộc đã chính xác trong dữ liệu hộ tịch, dân cư và các cơ sở dữ liệu liên quan chưa?

Nếu cả ba vấn đề đều rõ ràng thì việc đăng ký người phụ thuộc sẽ thuận lợi hơn rất nhiều.

ĐỪNG ĐỂ QUYỀN LỢI NẰM TRÊN GIẤY CHỈ VÌ NGƯỜI LAO ĐỘNG KHÔNG BIẾT

Một chính sách dù tốt đến đâu cũng chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân biết mình được hưởng quyền lợi gì và biết cách thực hiện quyền đó.

Với giảm trừ gia cảnh, đây không phải vấn đề xa vời.

Nó liên quan trực tiếp đến thu nhập thực tế của người làm công ăn lương và trách nhiệm nuôi dưỡng gia đình của mỗi cá nhân.

Việc nâng mức giảm trừ gia cảnh giúp giảm nghĩa vụ thuế cho nhiều người.

Việc khai thác dữ liệu thay cho yêu cầu cung cấp lại giấy tờ tiếp tục giảm chi phí tuân thủ.

Hai chính sách đặt cạnh nhau cho thấy một hướng đi đáng ghi nhận:

Không chỉ điều chỉnh số tiền được giảm trừ mà còn phải làm cho quyền lợi đó dễ tiếp cận hơn.

TỪ “NGƯỜI DÂN CHỨNG MINH” ĐẾN “NHÀ NƯỚC TỰ KIỂM TRA DỮ LIỆU”

Khoản 9 Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC còn có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi một thủ tục thuế.

Trong nhiều năm, người dân đã quen với cảnh một thông tin nhưng phải khai đi khai lại; một giấy khai sinh phải photocopy nhiều lần; một quan hệ gia đình đã được cơ quan hộ tịch xác nhận nhưng khi làm thủ tục khác lại tiếp tục phải chứng minh.

Khi dữ liệu quốc gia và dữ liệu chuyên ngành được kết nối, cách quản lý này cần thay đổi.

Nếu Nhà nước đã quản lý một thông tin chính xác và cơ quan có thẩm quyền khai thác được thì việc bắt người dân tiếp tục chứng minh chính thông tin đó bằng một bản giấy không còn phù hợp với tinh thần quản trị số.

Quy định mới về người phụ thuộc trong Thông tư 87/2026/TT-BTC vì thế đáng chú ý không chỉ dưới góc độ thuế.

Nó còn đặt ra một nguyên tắc rộng hơn:

Dữ liệu phải phục vụ người dân, chứ không phải người dân tiếp tục chạy theo những dữ liệu mà Nhà nước đã có.

THỜI NÉT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Đối với người lao động, cần chủ động rà soát người phụ thuộc trong gia đình, kiểm tra điều kiện và đăng ký đúng để không bỏ sót quyền lợi giảm trừ.

Đối với doanh nghiệp, cần cập nhật quy trình tiếp nhận hồ sơ, tránh yêu cầu giấy tờ một cách máy móc trong những trường hợp thông tin đã có thể được khai thác theo quy định.

Đối với cơ quan thực hiện, việc liên thông dữ liệu cần được triển khai thực chất. Nếu văn bản đã quy định khai thác dữ liệu nhưng thực tế người dân vẫn phải mang nhiều loại giấy tờ đã có trong cơ sở dữ liệu đi chứng minh thì mục tiêu cải cách thủ tục sẽ chưa đạt được đầy đủ.

Và đối với người nộp thuế, có thể ghi nhớ ngắn gọn bằng bốn câu:

Có người phụ thuộc – kiểm tra điều kiện.

Đủ điều kiện – thực hiện đăng ký.

Nhà nước đã có dữ liệu và khai thác được – không phải nộp lại giấy tờ tương ứng.

Kê khai – phải trung thực và chịu trách nhiệm.

Đó chính là cách hiểu đơn giản nhất để người lao động vừa thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, vừa không bỏ quên quyền lợi hợp pháp của mình.

CĂN CỨ PHÁP LÝ

  • Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15;
  • Nghị định số 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân;
  • Thông tư số 87/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính;
  • Điều 4 Thông tư 87/2026/TT-BTC về hồ sơ xác định người phụ thuộc được giảm trừ gia cảnh;
  • Công văn số 2231/CST-TN ngày 31/7/2026 về việc giới thiệu những điểm mới của Nghị định 253/2026/NĐ-CP và Thông tư 87/2026/TT-BTC.

HÀ LÊ

Ban Tư vấn pháp luật – THỜI NÉT SỐ

Bài viết có tính chất phổ biến, phân tích chính sách pháp luật. Việc xác định nghĩa vụ thuế trong từng trường hợp cụ thể cần căn cứ thu nhập, thời điểm phát sinh, điều kiện của người phụ thuộc và hồ sơ, dữ liệu thực tế.

 

Loading...
Xem thêm bài viết