Nguyễn Đình Thanh

Người dùng

Dưới cái nắng 40 độ C: Từ giọt mồ hôi người lao động đến giấc mơ an cư còn nhiều trăn trở

Những ngày cuối tháng 6, miền Bắc và miền Trung đang trải qua đợt nắng nóng gay gắt nhất kể từ đầu mùa hè năm nay. Nhiệt độ ngoài trời nhiều nơi vượt ngưỡng 40 độ C, mặt đường bỏng rát, không khí như bị nung nóng bởi những đợt gió khô hầm hập.

Hình ảnh minh họa ( Ảnh mạng internet)

Trong khi nhiều người làm việc trong văn phòng có điều hòa, những tòa nhà kín cửa kính và không gian mát lạnh, thì hàng triệu lao động phổ thông vẫn đang phải vật lộn với cái nóng khắc nghiệt để kiếm từng đồng thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình.

Họ là những người thợ xây dựng trên các công trình bê tông giữa trưa hè, những công nhân môi trường lặng lẽ quét dọn đường phố, những tài xế xe công nghệ rong ruổi khắp các tuyến đường, những người bán hàng rong đứng dưới mái tôn nóng bỏng hay những công nhân trong các nhà xưởng thiếu điều kiện làm mát.

Với họ, nắng nóng không chỉ là cảm giác khó chịu mà là một phần của cuộc mưu sinh.

Nhiều người biết rõ tác hại của việc làm việc dưới nền nhiệt cao, biết nguy cơ say nắng, kiệt sức hay sốc nhiệt luôn hiện hữu. Nhưng nghỉ làm đồng nghĩa với mất thu nhập. Và khi đồng lương còn phụ thuộc vào từng giờ lao động thì lựa chọn duy nhất vẫn là tiếp tục làm việc.

Điều ít người nhìn thấy là sự vất vả ấy không kết thúc khi tan ca.

Sau một ngày làm việc kiệt sức dưới cái nắng như thiêu đốt, hàng triệu công nhân và lao động thu nhập thấp lại trở về những khu nhà trọ chật hẹp.

Đó là những căn phòng chỉ từ 10 đến 15 mét vuông, mái tôn hấp thụ nhiệt suốt cả ngày. Đến tối, hơi nóng vẫn hắt xuống từ mái nhà và tỏa ra từ bốn bức tường.

Chiếc quạt điện quay liên tục nhưng chỉ thổi ra những luồng gió nóng.

Có những đêm người lao động phải nằm trằn trọc đến nửa đêm, thậm chí gần sáng mới chợp mắt được vài giờ đồng hồ trước khi tiếp tục bắt đầu một ngày làm việc mới.

Đó là một thực tế mà không phải ai ngồi trong những căn phòng điều hòa cũng có cơ hội cảm nhận.

Có lẽ chính vì khoảng cách ấy mà đôi khi những khó khăn của người lao động chưa được nhìn nhận đầy đủ trong quá trình hoạch định chính sách hay sử dụng nguồn lực xã hội.

Bởi mỗi đồng ngân sách thất thoát, mỗi công trình bỏ hoang, mỗi dự án chậm tiến độ hay mỗi khoản chi tiêu lãng phí cuối cùng đều được hình thành từ công sức lao động của hàng triệu người dân.

Đằng sau những con số trên giấy tờ là những giọt mồ hôi dưới nắng nóng của người công nhân, là những cuốc xe giữa trưa hè của tài xế công nghệ, là những gánh hàng rong chưa bán hết của người lao động nghèo.

Trong bối cảnh đó, chủ trương phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho công nhân đang được kỳ vọng sẽ trở thành lời giải cho bài toán an cư của người lao động.

Theo mục tiêu đã được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2030 cả nước sẽ xây dựng hơn một triệu căn nhà ở xã hội dành cho người thu nhập thấp và công nhân khu công nghiệp.

Đây là một chủ trương đúng đắn và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Tuy nhiên, từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn nhiều khoảng cách cần được nhìn nhận thẳng thắn.

Hiện nay Việt Nam có khoảng 4,5 triệu lao động đang làm việc trong các khu công nghiệp và khu chế xuất. Tại nhiều địa phương công nghiệp lớn, từ 60 đến 80% công nhân vẫn đang phải thuê trọ bên ngoài.

Điều đó đồng nghĩa với việc có hàng triệu người lao động đang cần một nơi ở ổn định và phù hợp với khả năng tài chính của mình.

Trong khi đó, mức thuê trọ hiện nay tại nhiều khu công nghiệp dao động từ khoảng 800 nghìn đến 1,5 triệu đồng mỗi tháng cho một phòng bình dân, chưa tính điện, nước, internet và các khoản sinh hoạt khác.

Sau khi cộng thêm các chi phí phát sinh, nhiều lao động phải chi từ 1,2 đến 2 triệu đồng mỗi tháng chỉ để duy trì chỗ ở.

Với mức thu nhập phổ biến từ 7 đến 10 triệu đồng/tháng, khoản tiền thuê nhà hiện đã chiếm từ 15 đến 30% tổng thu nhập.

Nếu nhà ở xã hội được đưa vào sử dụng với mức giá thuê từ 1,5 đến 3 triệu đồng mỗi tháng như nhiều dự án hiện nay thì bài toán khả năng chi trả vẫn là điều đáng suy nghĩ.

Bởi sau tiền nhà còn là tiền ăn uống, học hành của con cái, chi phí đi lại, thuốc men và nhiều khoản phát sinh khác.

Một câu hỏi khác cũng cần được đặt ra là tốc độ triển khai.

Ngay cả khi chương trình một triệu căn nhà ở xã hội hoàn thành đúng tiến độ vào năm 2030 thì nhu cầu thực tế của người lao động vẫn còn rất lớn.

Mỗi năm các khu công nghiệp tiếp tục mở rộng, lực lượng lao động tiếp tục tăng lên và áp lực về nhà ở vẫn không ngừng gia tăng.

Nhà ở cho công nhân vì thế không nên chỉ được tính bằng số lượng căn hộ được xây dựng.

Điều quan trọng hơn là bao nhiêu người lao động thực sự tiếp cận được, bao nhiêu gia đình công nhân đủ khả năng thuê hoặc mua và bao nhiêu người có thể rời khỏi những căn phòng trọ nóng bức để có một cuộc sống tốt hơn.

Từ góc nhìn của Thời Nét Số, điều người lao động mong muốn không chỉ là những con số đẹp trong báo cáo hay những lễ khởi công rầm rộ.

Điều họ cần là một nơi ở đủ mát để nghỉ ngơi sau ca làm việc kéo dài dưới cái nắng 40 độ C.

Điều họ cần là một mức giá thuê phù hợp với đồng lương công nhân.

Điều họ cần là sự bảo đảm rằng những chính sách an sinh sẽ thực sự đến được với người lao động chứ không chỉ dừng lại ở mục tiêu và kế hoạch.

Một xã hội phát triển không chỉ được đo bằng những tòa nhà cao tầng hay tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Sự phát triển ấy còn được phản ánh qua chất lượng cuộc sống của những người lao động bình thường nhất.

Khi những người công nhân, người lao động thu nhập thấp có thể yên tâm làm việc, có nơi ở tử tế, có giấc ngủ ngon sau những ngày nắng nóng khắc nghiệt, đó mới là lúc những chính sách an sinh thực sự phát huy giá trị.

Và đó cũng là điều mà hàng triệu người lao động đang chờ đợi phía sau mỗi giọt mồ hôi của cuộc mưu sinh.

Hà Lê

 

Loading...
Xem thêm bài viết