Nếu ở Kỳ 1, chúng ta nhìn lại chặng đường từ những cuốn sổ đăng ký tàu thuyền viết tay, những con dấu đỏ và các thủ tục kiểm soát thủ công để thấy vì sao Việt Nam phải chuyển sang mô hình quản lý cửa khẩu hiện đại, thì Kỳ 2 sẽ đi sâu vào một câu hỏi được nhiều người quan tâm:
Khi Nghị định số 289/2026/NĐ-CP có hiệu lực, Công an cửa khẩu cảng sẽ thực hiện những nhiệm vụ gì?
Đây không đơn thuần là việc đổi tên cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý. Điều quan trọng hơn là xây dựng một mô hình quản trị cửa khẩu hiện đại, trong đó quản lý xuất nhập cảnh, kiểm soát an ninh, quản lý con người và quản lý hoạt động tại cảng được tích hợp trên nền tảng số, giảm thủ tục hành chính nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chặt chẽ.
Theo Nghị định số 289/2026/NĐ-CP, Công an cửa khẩu cảng là lực lượng trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, trật tự tại các cửa khẩu cảng thuộc phạm vi Bộ Công an quản lý. Phạm vi nhiệm vụ không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra giấy tờ của thuyền viên hay đóng dấu xuất nhập cảnh như cách hiểu trước đây, mà bao gồm toàn bộ quá trình kiểm soát con người, phương tiện và hoạt động diễn ra trong khu vực cửa khẩu cảng.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là kiểm soát xuất cảnh, nhập cảnh đối với công dân Việt Nam, người nước ngoài, thuyền viên và các đối tượng khác thuộc diện quản lý theo quy định của pháp luật. Mọi thông tin về hành khách, thuyền viên, tổ bay, người làm việc trên tàu và các đối tượng liên quan sẽ được đối chiếu với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu xuất nhập cảnh và các hệ thống nghiệp vụ của Bộ Công an nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp sử dụng giấy tờ giả, đối tượng truy nã, đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh hoặc các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Một điểm rất đáng chú ý là Nghị định quy định việc kiểm soát không chỉ diễn ra tại thời điểm tàu cập hoặc rời cảng mà còn xuyên suốt quá trình tàu hoạt động trong khu vực cửa khẩu cảng. Điều này có nghĩa, khi có dấu hiệu nghi vấn liên quan đến an ninh, trật tự hoặc vi phạm pháp luật, Công an cửa khẩu cảng có quyền kiểm tra, giám sát, xác minh theo thẩm quyền và phối hợp với các lực lượng chức năng để xử lý.
Song song với nhiệm vụ kiểm soát xuất nhập cảnh là nhiệm vụ quản lý người ra, vào tàu và khu vực hạn chế của cảng. Nghị định đã thống nhất các loại giấy phép do Công an cửa khẩu cảng cấp, trong đó có giấy phép xuống tàu, giấy phép đi bờ của thuyền viên và các giấy phép phục vụ công tác quản lý người hoạt động trong khu vực cửa khẩu cảng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm kiểm soát chính xác ai được phép tiếp cận tàu, ai được phép rời tàu, thời gian và phạm vi hoạt động của từng đối tượng.
Ở góc độ quản trị hiện đại, việc cấp phép này không còn hướng tới việc tạo thêm thủ tục hành chính mà nhằm thiết lập một hệ thống nhận diện điện tử, giúp cơ quan quản lý theo dõi toàn bộ quá trình ra vào khu vực cửa khẩu cảng, giảm nguy cơ trà trộn, nhập cảnh trái phép, buôn lậu, vận chuyển hàng cấm hoặc các hành vi xâm phạm an ninh.
Nghị định cũng mở ra bước chuyển quan trọng khi quy định từ ngày 01/10/2026, nhiều thủ tục kiểm soát tại cửa khẩu cảng sẽ được thực hiện bằng phương thức điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Việc số hóa này sẽ giảm đáng kể hồ sơ giấy, rút ngắn thời gian xử lý, đồng thời tạo điều kiện để các cơ quan quản lý cùng khai thác một nguồn dữ liệu thống nhất, hạn chế tình trạng khai báo nhiều lần hoặc chồng chéo thông tin.
Điều đáng quan tâm hơn cả là trách nhiệm của Công an cửa khẩu cảng không tách rời các lực lượng quản lý chuyên ngành khác. Trong một cửa khẩu cảng hiện đại, Hải quan quản lý hàng hóa; Kiểm dịch quản lý y tế, động thực vật; Cảng vụ quản lý hoạt động hàng hải; còn Công an cửa khẩu cảng chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự và quản lý xuất nhập cảnh. Mỗi lực lượng có chức năng riêng nhưng cùng chia sẻ dữ liệu, phối hợp xử lý để hình thành một cơ chế quản lý thống nhất thay vì hoạt động rời rạc như trước đây.
Nhìn từ thực tiễn công tác biên phòng nhiều năm trước đây, có thể thấy sự thay đổi lớn nhất không nằm ở việc thay đổi lực lượng thực hiện nhiệm vụ mà nằm ở phương thức quản trị. Nếu trước kia mỗi thông tin đều phải ghi chép, đối chiếu thủ công và mất nhiều thời gian xác minh, thì nay dữ liệu điện tử, kết nối liên thông và kiểm soát thông minh sẽ giúp cơ quan quản lý phát hiện rủi ro nhanh hơn, chính xác hơn và minh bạch hơn.
Đó cũng chính là xu hướng mà các quốc gia có hệ thống cảng biển hiện đại đang áp dụng: quản lý bằng dữ liệu, kiểm soát bằng công nghệ và phối hợp bằng cơ chế liên thông, thay vì dựa chủ yếu vào hồ sơ giấy và kinh nghiệm cá nhân.
Nghị định số 289/2026/NĐ-CP vì vậy không chỉ là một văn bản quy định về an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng, mà còn đánh dấu bước chuyển từ tư duy "kiểm soát thủ công" sang "quản trị cửa khẩu thông minh", trong đó Công an cửa khẩu cảng giữ vai trò hạt nhân về bảo đảm an ninh, xuất nhập cảnh và quản lý con người trong toàn bộ hệ thống.
BT; HÀ LÊ
ĐÓN ĐỌC KỲ 3
"KHI MỘT CON TÀU CẬP CẢNG: QUY TRÌNH KIỂM SOÁT ĐIỆN TỬ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO? TỪ CỔNG THÔNG TIN MỘT CỬA ĐẾN CƠ SỞ DỮ LIỆU DÙNG CHUNG"
Nghiêm Quốc Trung
24/07/2026 15:57:51Người dùng
DIỄN ĐÀN THỜI NÉT SỐ: TỪ NGƯỜI LÍNH BIÊN PHÒNG ĐẾN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỬA KHẨU HIỆN ĐẠI – NHÌN TỪ NGHỊ ĐỊNH SỐ 289/2026/NĐ-CP
CÔNG AN CỬA KHẨU CẢNG SẼ LÀM GÌ? TỪ KIỂM SOÁT XUẤT NHẬP CẢNH ĐẾN QUẢN TRỊ AN NINH CẢNG BIỂN HIỆN ĐẠI
Nếu ở Kỳ 1, chúng ta nhìn lại chặng đường từ những cuốn sổ đăng ký tàu thuyền viết tay, những con dấu đỏ và các thủ tục kiểm soát thủ công để thấy vì sao Việt Nam phải chuyển sang mô hình quản lý cửa khẩu hiện đại, thì Kỳ 2 sẽ đi sâu vào một câu hỏi được nhiều người quan tâm:
Khi Nghị định số 289/2026/NĐ-CP có hiệu lực, Công an cửa khẩu cảng sẽ thực hiện những nhiệm vụ gì?
Đây không đơn thuần là việc đổi tên cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý. Điều quan trọng hơn là xây dựng một mô hình quản trị cửa khẩu hiện đại, trong đó quản lý xuất nhập cảnh, kiểm soát an ninh, quản lý con người và quản lý hoạt động tại cảng được tích hợp trên nền tảng số, giảm thủ tục hành chính nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chặt chẽ.
Theo Nghị định số 289/2026/NĐ-CP, Công an cửa khẩu cảng là lực lượng trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, trật tự tại các cửa khẩu cảng thuộc phạm vi Bộ Công an quản lý. Phạm vi nhiệm vụ không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra giấy tờ của thuyền viên hay đóng dấu xuất nhập cảnh như cách hiểu trước đây, mà bao gồm toàn bộ quá trình kiểm soát con người, phương tiện và hoạt động diễn ra trong khu vực cửa khẩu cảng.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là kiểm soát xuất cảnh, nhập cảnh đối với công dân Việt Nam, người nước ngoài, thuyền viên và các đối tượng khác thuộc diện quản lý theo quy định của pháp luật. Mọi thông tin về hành khách, thuyền viên, tổ bay, người làm việc trên tàu và các đối tượng liên quan sẽ được đối chiếu với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu xuất nhập cảnh và các hệ thống nghiệp vụ của Bộ Công an nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp sử dụng giấy tờ giả, đối tượng truy nã, đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh hoặc các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.
Một điểm rất đáng chú ý là Nghị định quy định việc kiểm soát không chỉ diễn ra tại thời điểm tàu cập hoặc rời cảng mà còn xuyên suốt quá trình tàu hoạt động trong khu vực cửa khẩu cảng. Điều này có nghĩa, khi có dấu hiệu nghi vấn liên quan đến an ninh, trật tự hoặc vi phạm pháp luật, Công an cửa khẩu cảng có quyền kiểm tra, giám sát, xác minh theo thẩm quyền và phối hợp với các lực lượng chức năng để xử lý.
Song song với nhiệm vụ kiểm soát xuất nhập cảnh là nhiệm vụ quản lý người ra, vào tàu và khu vực hạn chế của cảng. Nghị định đã thống nhất các loại giấy phép do Công an cửa khẩu cảng cấp, trong đó có giấy phép xuống tàu, giấy phép đi bờ của thuyền viên và các giấy phép phục vụ công tác quản lý người hoạt động trong khu vực cửa khẩu cảng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm kiểm soát chính xác ai được phép tiếp cận tàu, ai được phép rời tàu, thời gian và phạm vi hoạt động của từng đối tượng.
Ở góc độ quản trị hiện đại, việc cấp phép này không còn hướng tới việc tạo thêm thủ tục hành chính mà nhằm thiết lập một hệ thống nhận diện điện tử, giúp cơ quan quản lý theo dõi toàn bộ quá trình ra vào khu vực cửa khẩu cảng, giảm nguy cơ trà trộn, nhập cảnh trái phép, buôn lậu, vận chuyển hàng cấm hoặc các hành vi xâm phạm an ninh.
Nghị định cũng mở ra bước chuyển quan trọng khi quy định từ ngày 01/10/2026, nhiều thủ tục kiểm soát tại cửa khẩu cảng sẽ được thực hiện bằng phương thức điện tử thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Việc số hóa này sẽ giảm đáng kể hồ sơ giấy, rút ngắn thời gian xử lý, đồng thời tạo điều kiện để các cơ quan quản lý cùng khai thác một nguồn dữ liệu thống nhất, hạn chế tình trạng khai báo nhiều lần hoặc chồng chéo thông tin.
Điều đáng quan tâm hơn cả là trách nhiệm của Công an cửa khẩu cảng không tách rời các lực lượng quản lý chuyên ngành khác. Trong một cửa khẩu cảng hiện đại, Hải quan quản lý hàng hóa; Kiểm dịch quản lý y tế, động thực vật; Cảng vụ quản lý hoạt động hàng hải; còn Công an cửa khẩu cảng chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự và quản lý xuất nhập cảnh. Mỗi lực lượng có chức năng riêng nhưng cùng chia sẻ dữ liệu, phối hợp xử lý để hình thành một cơ chế quản lý thống nhất thay vì hoạt động rời rạc như trước đây.
Nhìn từ thực tiễn công tác biên phòng nhiều năm trước đây, có thể thấy sự thay đổi lớn nhất không nằm ở việc thay đổi lực lượng thực hiện nhiệm vụ mà nằm ở phương thức quản trị. Nếu trước kia mỗi thông tin đều phải ghi chép, đối chiếu thủ công và mất nhiều thời gian xác minh, thì nay dữ liệu điện tử, kết nối liên thông và kiểm soát thông minh sẽ giúp cơ quan quản lý phát hiện rủi ro nhanh hơn, chính xác hơn và minh bạch hơn.
Đó cũng chính là xu hướng mà các quốc gia có hệ thống cảng biển hiện đại đang áp dụng: quản lý bằng dữ liệu, kiểm soát bằng công nghệ và phối hợp bằng cơ chế liên thông, thay vì dựa chủ yếu vào hồ sơ giấy và kinh nghiệm cá nhân.
Nghị định số 289/2026/NĐ-CP vì vậy không chỉ là một văn bản quy định về an ninh, trật tự tại cửa khẩu cảng, mà còn đánh dấu bước chuyển từ tư duy "kiểm soát thủ công" sang "quản trị cửa khẩu thông minh", trong đó Công an cửa khẩu cảng giữ vai trò hạt nhân về bảo đảm an ninh, xuất nhập cảnh và quản lý con người trong toàn bộ hệ thống.
BT; HÀ LÊ
ĐÓN ĐỌC KỲ 3
"KHI MỘT CON TÀU CẬP CẢNG: QUY TRÌNH KIỂM SOÁT ĐIỆN TỬ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO? TỪ CỔNG THÔNG TIN MỘT CỬA ĐẾN CƠ SỞ DỮ LIỆU DÙNG CHUNG"