Nguyễn Thị Dung

Người dùng

DIỄN ĐÀN THỜI NÉT SỐ TỪ NGƯỜI LÍNH BIÊN PHÒNG ĐẾN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CỬA KHẨU HIỆN ĐẠI – NHÌN TỪ NGHỊ ĐỊNH 289/2026/NĐ-CP

KỲ 3: KHI MỘT CON TÀU CẬP CẢNG: QUY TRÌNH KIỂM SOÁT ĐIỆN TỬ DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO? TỪ CỔNG THÔNG TIN MỘT CỬA ĐẾN CƠ SỞ DỮ LIỆU DÙNG CHUNG

Hình mình họa ( Ảnh mạng internet)

Sau hai kỳ đầu phân tích sự chuyển đổi từ mô hình quản lý thủ công sang quản lý cửa khẩu hiện đại và làm rõ chức năng, nhiệm vụ của Công an cửa khẩu cảng theo Nghị định số 289/2026/NĐ-CP, một câu hỏi được nhiều người quan tâm là: Khi một con tàu nước ngoài cập cảng Việt Nam, toàn bộ quy trình kiểm tra, giám sát hiện nay diễn ra như thế nào?

Nếu như trước đây, hình ảnh quen thuộc là thuyền trưởng mang từng tập hồ sơ giấy đi qua nhiều cơ quan để xin xác nhận thì ngày nay, phần lớn quy trình đã được số hóa, liên thông dữ liệu và xử lý trên môi trường điện tử.

Đó không chỉ là sự thay đổi về phương thức làm việc, mà còn là bước tiến lớn trong cải cách hành chính, quản trị nhà nước và bảo đảm an ninh quốc gia.

Một con tàu trước khi cập cảng Việt Nam thường phải khai báo trước nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày, thông qua Cơ chế một cửa quốc gia (National Single Window - NSW). Tại đây, doanh nghiệp vận tải biển hoặc đại lý tàu biển chỉ cần khai báo một lần trên hệ thống điện tử thay vì phải nộp nhiều bộ hồ sơ cho từng cơ quan quản lý.

Ngay khi dữ liệu được gửi lên hệ thống, thông tin sẽ được phân luồng và chia sẻ đến các lực lượng có liên quan như Công an cửa khẩu cảng, Hải quan, Biên phòng (đối với khu vực còn thực hiện nhiệm vụ theo quy định), Kiểm dịch y tế, Kiểm dịch động thực vật, Cảng vụ hàng hải và các cơ quan quản lý chuyên ngành khác.

Điều đáng chú ý là các cơ quan này không còn làm việc độc lập như trước, mà cùng khai thác một nguồn dữ liệu thống nhất.

Danh sách thuyền viên.

Danh sách hành khách.

Thông tin tàu.

Hàng hóa vận chuyển.

Lịch trình hành trình.

Cảng đi.

Cảng đến.

Lịch sử cập cảng.

Thông tin cảnh báo an ninh quốc tế.

Toàn bộ dữ liệu đều được tự động chia sẻ thông qua các hệ thống kết nối.

Điều này giúp giảm đáng kể tình trạng doanh nghiệp phải khai báo nhiều lần cùng một nội dung.

Quan trọng hơn, cơ quan quản lý có thể phát hiện rủi ro ngay từ khi con tàu còn chưa cập cảng.

Nếu phát hiện trong danh sách thuyền viên có người đang bị truy nã quốc tế, sử dụng giấy tờ giả, thuộc diện cấm nhập cảnh hoặc nằm trong danh sách cảnh báo của Interpol hay các cơ quan an ninh, hệ thống sẽ ngay lập tức cảnh báo cho lực lượng Công an cửa khẩu cảng để triển khai phương án kiểm tra ngay khi tàu cập bến.

Đây là điểm khác biệt căn bản giữa phương thức quản lý truyền thống và quản lý dựa trên dữ liệu.

Trước đây, việc phát hiện chủ yếu diễn ra sau khi người nhập cảnh đã có mặt tại cửa khẩu.

Hiện nay, việc đánh giá nguy cơ đã được thực hiện ngay từ khâu khai báo điện tử.

Đối với hàng hóa, dữ liệu điện tử cũng được chuyển đến cơ quan Hải quan để thực hiện quản lý rủi ro.

Hệ thống sẽ tự động phân tích các tiêu chí như:

  • Quốc gia xuất phát.
  • Chủ hàng.
  • Tuyến vận chuyển.
  • Lịch sử vi phạm.
  • Loại hàng hóa.
  • Mức độ rủi ro.

Từ đó quyết định lô hàng thuộc diện kiểm tra thực tế hay được thông quan nhanh.

Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, tỷ lệ kiểm tra thủ công giảm đáng kể nhưng hiệu quả phát hiện vi phạm lại tăng lên.

Đối với Công an cửa khẩu cảng, dữ liệu điện tử không chỉ phục vụ kiểm soát xuất nhập cảnh mà còn hỗ trợ rất lớn trong công tác bảo đảm an ninh quốc gia.

Thông qua việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước, cơ sở dữ liệu xuất nhập cảnh và nhiều hệ thống nghiệp vụ khác của Bộ Công an, cán bộ làm nhiệm vụ có thể đối chiếu, xác minh thông tin chỉ trong thời gian rất ngắn.

Một hộ chiếu có dấu hiệu bị làm giả.

Một người sử dụng nhiều danh tính khác nhau.

Một đối tượng từng vi phạm pháp luật tại Việt Nam.

Một cá nhân đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Hay một tổ chức có dấu hiệu tài trợ khủng bố.

Tất cả đều có thể được hệ thống tự động hỗ trợ phát hiện.

Chính vì vậy, cửa khẩu hiện đại không còn chỉ là nơi "đóng dấu hộ chiếu" như cách hiểu thông thường.

Đó là trung tâm phân tích dữ liệu, nơi hội tụ của nhiều hệ thống thông tin quốc gia.

Một điểm mới rất đáng chú ý trong Nghị định số 289/2026/NĐ-CP là yêu cầu các cơ quan tại cửa khẩu phải chia sẻ dữ liệu, phối hợp xử lý và tránh chồng chéo trong hoạt động quản lý.

Điều này tạo ra cơ chế quản lý thống nhất, giảm thủ tục hành chính nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát chặt chẽ.

Đối với doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và hãng tàu quốc tế, sự thay đổi này mang lại nhiều lợi ích thiết thực.

Thời gian làm thủ tục giảm.

Chi phí lưu tàu giảm.

Chi phí lưu container giảm.

Giảm tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

Tăng tính minh bạch.

Hạn chế tiêu cực.

Đó cũng chính là mục tiêu của Chính phủ khi xây dựng mô hình cửa khẩu số.

Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi là yêu cầu rất cao về bảo đảm an toàn thông tin.

Nếu dữ liệu bị lộ lọt hoặc bị tấn công mạng, hậu quả không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp mà còn tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia.

Bởi vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung luôn phải đi đôi với các giải pháp bảo mật nhiều lớp, phân quyền khai thác, mã hóa thông tin, kiểm soát truy cập và giám sát an ninh mạng theo tiêu chuẩn của Bộ Công an.

Nhìn lại chặng đường hơn bốn mươi năm phát triển của lực lượng quản lý cửa khẩu, có thể thấy sự thay đổi lớn nhất không nằm ở việc thay cuốn sổ giấy bằng màn hình máy tính.

Điều quan trọng hơn là tư duy quản lý đã chuyển từ kiểm tra sau sang phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ quản lý bằng hồ sơ sang quản lý bằng dữ liệu, từ xử lý đơn lẻ sang phối hợp liên ngành trên một nền tảng số thống nhất.

Đó chính là nền tảng để xây dựng mô hình cửa khẩu thông minh, cửa khẩu số và quản trị biên giới hiện đại mà Việt Nam đang hướng tới trong giai đoạn chuyển đổi số quốc gia.

BT: HÀ LÊ

ĐÓN ĐỌC KỲ 4

"TỪ CỬA KHẨU THÔNG MINH ĐẾN BIÊN GIỚI SỐ: TRÍ TUỆ NHÂN TẠO, DỮ LIỆU LỚN VÀ NHỮNG THÁCH THỨC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN TRONG KỶ NGUYÊN SỐ"

Kỳ 4 sẽ phân tích sâu về xu hướng ứng dụng AI, nhận diện sinh trắc học, dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) và các nền tảng quản lý cửa khẩu thông minh trên thế giới; đồng thời đánh giá cơ hội, thách thức và định hướng phát triển mô hình cửa khẩu số của Việt Nam theo Nghị định số 289/2026/NĐ-CP, gắn với yêu cầu bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và hội nhập quốc tế.

 

Loading...
Xem thêm bài viết