Trường này thiếu người đứng lớp, nơi khác lại có giáo viên dôi dư. Sinh viên sư phạm được hỗ trợ học phí và chi phí sinh hoạt, nhưng tốt nghiệp chưa chắc đã được tuyển đúng nơi cần. Mỗi vấn đề đều có giải pháp riêng; điều người dân mong đợi là các giải pháp ấy được nối thành một kế hoạch lâu dài.

Hình minh họa( Ảnh mạng internet)
Thông báo số 500/TB-VPCP được phản ánh trong bài báo mới đây đặt ra yêu cầu: trong năm học 2026–2027, các địa phương phải chấm dứt tình trạng thiếu giáo viên đứng lớp do những nguyên nhân chủ quan như chậm tuyển dụng, không ký hợp đồng, không bố trí kinh phí hoặc không điều tiết đội ngũ trong phạm vi thẩm quyền. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng được yêu cầu rà soát mạng lưới đào tạo giáo viên, thu gọn đầu mối và nâng chất lượng đào tạo sư phạm.
Đọc những yêu cầu ấy, người ta vừa hy vọng, vừa không khỏi băn khoăn: vì sao một việc căn bản như có đủ thầy cô cho học sinh lại phải liên tục được nhắc đến như một nhiệm vụ cấp bách?
Một bên thiếu, một bên dôi dư
Sắp xếp trường lớp, tinh gọn bộ máy có thể làm phát sinh cán bộ quản lý, nhân viên hoặc giáo viên dôi dư ở một số nơi. Trong khi đó, một số trường vẫn thiếu giáo viên theo môn học, cấp học hoặc địa bàn. Hai thực tế ấy có thể cùng tồn tại.
Nhưng không thể lấy con số người dôi dư để kết luận rằng đã đủ người dạy. Một giáo viên được đào tạo môn này không thể lập tức đứng lớp môn khác. Một cán bộ quản lý trở lại giảng dạy cũng cần đáp ứng điều kiện chuyên môn. Giáo viên ở nơi thừa không phải lúc nào cũng có thể chuyển đến nơi thiếu, nhất là khi việc chuyển công tác gắn với gia đình, chỗ ở và thu nhập.
Ngược lại, cũng không thể để tình trạng thiếu giáo viên kéo dài chỉ vì địa phương chậm tuyển số biên chế đã được giao, chậm ký hợp đồng hoặc không bố trí kinh phí. Nếu học sinh phải học ghép, giáo viên phải gánh thêm tiết trong khi vị trí tuyển dụng vẫn để trống, đó là vấn đề quản lý cần được giải trình rõ.
Chính vì vậy, việc giải quyết chế độ nghỉ hưu trước tuổi cho người thuộc diện dôi dư phải được xem xét theo từng vị trí và đúng quy định. Làm nhanh cho gọn số người trên giấy tờ, rồi lại thiếu người trong lớp học, thì cái giá cuối cùng vẫn do học sinh và giáo viên đang công tác gánh chịu.
Đào tạo miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt: Sau tốt nghiệp ai sử dụng?
Chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt cho sinh viên sư phạm đã được quy định từ Nghị định 116/2020/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung sau đó. Đây là khoản đầu tư cần thiết để thu hút người học nghề dạy học, nhất là khi nhiều địa bàn, môn học khó tuyển giáo viên.
Tuy nhiên, hỗ trợ người học mới giải quyết được đầu vào. Nếu chỉ tiêu đào tạo không dựa sát số giáo viên từng địa phương sẽ cần sau bốn, năm năm; nếu nơi cần người không có cơ chế tuyển dụng phù hợp; nếu sinh viên tốt nghiệp không nhìn thấy cơ hội làm việc ổn định, thì tiền hỗ trợ khó đạt được mục đích trọn vẹn.
Câu hỏi cần đặt ra trước mỗi khóa tuyển sinh là: đào tạo giáo viên môn gì, cho địa bàn nào, dự kiến cần bao nhiêu người và ai chịu trách nhiệm sử dụng sau tốt nghiệp? Khi chưa trả lời được, rất dễ lặp lại vòng luẩn quẩn: nơi cần vẫn thiếu, người được đào tạo lại chưa tìm được vị trí phù hợp.
Việc thu gọn các đầu mối đào tạo sư phạm và nâng chuẩn đầu ra là cần thiết. Nhưng chất lượng không chỉ nằm ở tên gọi của trường. Chất lượng phải được chứng minh bằng chương trình học, thời gian thực hành, năng lực của người tốt nghiệp và khả năng đáp ứng công việc thực tế.
Tăng đãi ngộ phải đi cùng khả năng giữ người
Người dân mong giáo viên được trả lương, hưởng phụ cấp tương xứng với trách nhiệm. Đãi ngộ tốt hơn có thể giúp thu hút và giữ người, đặc biệt ở vùng khó khăn và các môn thiếu giáo viên.
Song tăng lương không thể thay cho việc dự báo nhu cầu, tuyển dụng đúng lúc và phân bổ đúng chỗ. Một địa phương có chỉ tiêu mà không tuyển, một trường cần giáo viên nhưng không có kinh phí hợp đồng, hay một giáo viên phải chờ quá lâu để biết mình có được nhận hay không: những điểm nghẽn ấy cần được xử lý cùng với chính sách tiền lương.
Điều giáo viên cần còn là một môi trường làm việc ổn định, thời gian dành cho học sinh và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Có giữ được người đang dạy thì mới giảm áp lực phải liên tục tìm người mới.
Câu chuyện sách giáo khoa cũng cần câu trả lời từ khâu tổ chức
Đầu năm học, nhiều phụ huynh quan tâm chuyện sách giáo khoa: sách có đến đúng lúc không, có đủ để mua hoặc mượn không, chi phí thực tế là bao nhiêu? Gần đây, việc TP.HCM có thể tự in sách từ bộ sách chung vào năm sau được nêu như một phương án để học sinh mượn dùng, khi các điều kiện liên quan ổn định. Đây vẫn là khả năng được đề cập, chưa phải việc đã thực hiện.
Muốn kết luận nơi nào thiếu sách, thiếu bao nhiêu và vì sao, cần có số liệu cụ thể. Nhưng về nguyên tắc, số học sinh, số lớp và nhu cầu sách phải được dự báo đủ sớm; việc lựa chọn, in, phân phối và tổ chức cho mượn phải có người chịu trách nhiệm ở từng khâu. Phụ huynh không thể đợi đến ngày khai giảng mới biết con mình có đủ sách hay chưa.
Giáo viên và sách giáo khoa là hai bài toán khác nhau, nhưng cùng thử thách một năng lực: dự báo nhu cầu và tổ chức thực hiện trước khi năm học bắt đầu.
Ai chịu trách nhiệm khi một vấn đề lặp lại?
Có thể gọi tình trạng thiếu giáo viên kéo dài trong khi vẫn có chỉ tiêu chưa tuyển là biểu hiện của quản lý yếu kém không? Theo tôi, có thể đặt câu hỏi ấy một cách thẳng thắn. Tuy nhiên, trách nhiệm cần được xác định bằng số liệu và theo đúng thẩm quyền của từng cấp, thay vì quy mọi vướng mắc cho một cá nhân hay một cơ quan.
Bộ quản lý ngành cần công bố dự báo, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện. Địa phương phải làm rõ số vị trí thiếu theo trường, môn học; số biên chế đã giao nhưng chưa tuyển; lý do chậm tuyển; phương án điều động, hợp đồng và nguồn chi trả. Cơ sở đào tạo cần cho thấy sinh viên tốt nghiệp có đáp ứng yêu cầu đứng lớp hay không.
Quan trọng hơn, khi một mục tiêu không đạt, phải chỉ ra khâu nào không đạt, ai có trách nhiệm sửa và thời hạn sửa là khi nào. Nếu cuối năm chỉ báo cáo rằng đã họp, đã chỉ đạo, đã rà soát, rồi đầu năm sau lớp học vẫn thiếu thầy cô, thì vòng luẩn quẩn sẽ còn tiếp diễn.
Ngành giáo dục đã có nhiều đổi thay và có rất nhiều thầy cô tận tụy giữ lớp, giữ trường trong điều kiện khó khăn. Chính sự tận tụy ấy càng đòi hỏi người làm chính sách phải tính trước, làm đến nơi đến chốn. Trẻ em không thể tạm dừng một năm học để chờ hoàn thiện quy trình.
Bài học nên bắt đầu từ một cam kết dễ kiểm chứng: trước khi năm học mới mở cửa, mỗi lớp cần biết ai sẽ đứng dạy; mỗi giáo viên cần biết vị trí và chế độ của mình; mỗi gia đình cần biết con có đủ điều kiện học tập. Làm được những việc căn bản ấy, giáo dục mới thực sự thoát khỏi cảnh năm nào cũng giải quyết lại những vấn đề cũ.
Hà Lê
DIỄN ĐÀN THỜI NÉT SỐ – Chuyện cuối tuần
Tô Lê
27/09/2026 09:34:57Tài khoản quản lý
CHUYỆN CUỐI TUẦN- Thiếu giáo viên, thừa giáo viên: Đến bao giờ giáo dục thôi chạy theo để sửa?
Hình minh họa( Ảnh mạng internet)
Thông báo số 500/TB-VPCP được phản ánh trong bài báo mới đây đặt ra yêu cầu: trong năm học 2026–2027, các địa phương phải chấm dứt tình trạng thiếu giáo viên đứng lớp do những nguyên nhân chủ quan như chậm tuyển dụng, không ký hợp đồng, không bố trí kinh phí hoặc không điều tiết đội ngũ trong phạm vi thẩm quyền. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng được yêu cầu rà soát mạng lưới đào tạo giáo viên, thu gọn đầu mối và nâng chất lượng đào tạo sư phạm.
Đọc những yêu cầu ấy, người ta vừa hy vọng, vừa không khỏi băn khoăn: vì sao một việc căn bản như có đủ thầy cô cho học sinh lại phải liên tục được nhắc đến như một nhiệm vụ cấp bách?
Một bên thiếu, một bên dôi dư
Sắp xếp trường lớp, tinh gọn bộ máy có thể làm phát sinh cán bộ quản lý, nhân viên hoặc giáo viên dôi dư ở một số nơi. Trong khi đó, một số trường vẫn thiếu giáo viên theo môn học, cấp học hoặc địa bàn. Hai thực tế ấy có thể cùng tồn tại.
Nhưng không thể lấy con số người dôi dư để kết luận rằng đã đủ người dạy. Một giáo viên được đào tạo môn này không thể lập tức đứng lớp môn khác. Một cán bộ quản lý trở lại giảng dạy cũng cần đáp ứng điều kiện chuyên môn. Giáo viên ở nơi thừa không phải lúc nào cũng có thể chuyển đến nơi thiếu, nhất là khi việc chuyển công tác gắn với gia đình, chỗ ở và thu nhập.
Ngược lại, cũng không thể để tình trạng thiếu giáo viên kéo dài chỉ vì địa phương chậm tuyển số biên chế đã được giao, chậm ký hợp đồng hoặc không bố trí kinh phí. Nếu học sinh phải học ghép, giáo viên phải gánh thêm tiết trong khi vị trí tuyển dụng vẫn để trống, đó là vấn đề quản lý cần được giải trình rõ.
Chính vì vậy, việc giải quyết chế độ nghỉ hưu trước tuổi cho người thuộc diện dôi dư phải được xem xét theo từng vị trí và đúng quy định. Làm nhanh cho gọn số người trên giấy tờ, rồi lại thiếu người trong lớp học, thì cái giá cuối cùng vẫn do học sinh và giáo viên đang công tác gánh chịu.
Đào tạo miễn học phí, hỗ trợ sinh hoạt: Sau tốt nghiệp ai sử dụng?
Chính sách hỗ trợ tiền đóng học phí và chi phí sinh hoạt cho sinh viên sư phạm đã được quy định từ Nghị định 116/2020/NĐ-CP và được sửa đổi, bổ sung sau đó. Đây là khoản đầu tư cần thiết để thu hút người học nghề dạy học, nhất là khi nhiều địa bàn, môn học khó tuyển giáo viên.
Tuy nhiên, hỗ trợ người học mới giải quyết được đầu vào. Nếu chỉ tiêu đào tạo không dựa sát số giáo viên từng địa phương sẽ cần sau bốn, năm năm; nếu nơi cần người không có cơ chế tuyển dụng phù hợp; nếu sinh viên tốt nghiệp không nhìn thấy cơ hội làm việc ổn định, thì tiền hỗ trợ khó đạt được mục đích trọn vẹn.
Câu hỏi cần đặt ra trước mỗi khóa tuyển sinh là: đào tạo giáo viên môn gì, cho địa bàn nào, dự kiến cần bao nhiêu người và ai chịu trách nhiệm sử dụng sau tốt nghiệp? Khi chưa trả lời được, rất dễ lặp lại vòng luẩn quẩn: nơi cần vẫn thiếu, người được đào tạo lại chưa tìm được vị trí phù hợp.
Việc thu gọn các đầu mối đào tạo sư phạm và nâng chuẩn đầu ra là cần thiết. Nhưng chất lượng không chỉ nằm ở tên gọi của trường. Chất lượng phải được chứng minh bằng chương trình học, thời gian thực hành, năng lực của người tốt nghiệp và khả năng đáp ứng công việc thực tế.
Tăng đãi ngộ phải đi cùng khả năng giữ người
Người dân mong giáo viên được trả lương, hưởng phụ cấp tương xứng với trách nhiệm. Đãi ngộ tốt hơn có thể giúp thu hút và giữ người, đặc biệt ở vùng khó khăn và các môn thiếu giáo viên.
Song tăng lương không thể thay cho việc dự báo nhu cầu, tuyển dụng đúng lúc và phân bổ đúng chỗ. Một địa phương có chỉ tiêu mà không tuyển, một trường cần giáo viên nhưng không có kinh phí hợp đồng, hay một giáo viên phải chờ quá lâu để biết mình có được nhận hay không: những điểm nghẽn ấy cần được xử lý cùng với chính sách tiền lương.
Điều giáo viên cần còn là một môi trường làm việc ổn định, thời gian dành cho học sinh và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Có giữ được người đang dạy thì mới giảm áp lực phải liên tục tìm người mới.
Câu chuyện sách giáo khoa cũng cần câu trả lời từ khâu tổ chức
Đầu năm học, nhiều phụ huynh quan tâm chuyện sách giáo khoa: sách có đến đúng lúc không, có đủ để mua hoặc mượn không, chi phí thực tế là bao nhiêu? Gần đây, việc TP.HCM có thể tự in sách từ bộ sách chung vào năm sau được nêu như một phương án để học sinh mượn dùng, khi các điều kiện liên quan ổn định. Đây vẫn là khả năng được đề cập, chưa phải việc đã thực hiện.
Muốn kết luận nơi nào thiếu sách, thiếu bao nhiêu và vì sao, cần có số liệu cụ thể. Nhưng về nguyên tắc, số học sinh, số lớp và nhu cầu sách phải được dự báo đủ sớm; việc lựa chọn, in, phân phối và tổ chức cho mượn phải có người chịu trách nhiệm ở từng khâu. Phụ huynh không thể đợi đến ngày khai giảng mới biết con mình có đủ sách hay chưa.
Giáo viên và sách giáo khoa là hai bài toán khác nhau, nhưng cùng thử thách một năng lực: dự báo nhu cầu và tổ chức thực hiện trước khi năm học bắt đầu.
Ai chịu trách nhiệm khi một vấn đề lặp lại?
Có thể gọi tình trạng thiếu giáo viên kéo dài trong khi vẫn có chỉ tiêu chưa tuyển là biểu hiện của quản lý yếu kém không? Theo tôi, có thể đặt câu hỏi ấy một cách thẳng thắn. Tuy nhiên, trách nhiệm cần được xác định bằng số liệu và theo đúng thẩm quyền của từng cấp, thay vì quy mọi vướng mắc cho một cá nhân hay một cơ quan.
Bộ quản lý ngành cần công bố dự báo, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện. Địa phương phải làm rõ số vị trí thiếu theo trường, môn học; số biên chế đã giao nhưng chưa tuyển; lý do chậm tuyển; phương án điều động, hợp đồng và nguồn chi trả. Cơ sở đào tạo cần cho thấy sinh viên tốt nghiệp có đáp ứng yêu cầu đứng lớp hay không.
Quan trọng hơn, khi một mục tiêu không đạt, phải chỉ ra khâu nào không đạt, ai có trách nhiệm sửa và thời hạn sửa là khi nào. Nếu cuối năm chỉ báo cáo rằng đã họp, đã chỉ đạo, đã rà soát, rồi đầu năm sau lớp học vẫn thiếu thầy cô, thì vòng luẩn quẩn sẽ còn tiếp diễn.
Ngành giáo dục đã có nhiều đổi thay và có rất nhiều thầy cô tận tụy giữ lớp, giữ trường trong điều kiện khó khăn. Chính sự tận tụy ấy càng đòi hỏi người làm chính sách phải tính trước, làm đến nơi đến chốn. Trẻ em không thể tạm dừng một năm học để chờ hoàn thiện quy trình.
Bài học nên bắt đầu từ một cam kết dễ kiểm chứng: trước khi năm học mới mở cửa, mỗi lớp cần biết ai sẽ đứng dạy; mỗi giáo viên cần biết vị trí và chế độ của mình; mỗi gia đình cần biết con có đủ điều kiện học tập. Làm được những việc căn bản ấy, giáo dục mới thực sự thoát khỏi cảnh năm nào cũng giải quyết lại những vấn đề cũ.
Hà Lê
DIỄN ĐÀN THỜI NÉT SỐ – Chuyện cuối tuần